phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương và 10 tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HỒ QUÝ LY 1. CUỘC KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN CỦA XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN CUỐI THẾ KỶ XIV 1. Kinh tế Kể từ thế kỷ X, sau khi thoát khỏi sự thống trị của phương Bắc, một nhà nước phong kiến dân tộc ở nước ta đang dần được hình thành và phát triển qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần.
Chính sự ra đời của nhà nước theo mô hình Nho giáo được các triều đại tiếp thu và xây dựng đã giúp cho việc quản lý, xây dựng và bảo vệ quốc gia trở nên hiệu quả hơn. Cơ sở của mô hình nhà nước này được xác lập dựa trên chế độ sở hữu về ruộng đất của nhà nước. Đây cũng chính là đặc điểm phương Đông mà Mác kh ng định “Nhà nước ở đây là người sở hữu tối cao về ruộng đất. Chủ quyền ở đây là chế độ sở hữu ruộng đất tập trung ở quy mô cả nước [02, tr.
Nhận xét trên chỉ là những nét chủ đạo và chung nhất, tuy nhiên nếu đi vào trường hợp một quốc gia cụ thể như Đại Việt, thì cũng có những nét riêng trong chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất. Ngay từ thế kỷ X, ruộng tư đã bắt đầu phát triển và kéo theo đó là sự mua bán, trao đổi, cầm cố và được xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Thời Lý, chỉ trong vòng có 10 năm (1135 - 1145) Nhà nước đã 3 lần xuống chiếu để điều chỉnh những vấn đề liên quan tới tranh chấp ruộng đất. Bước sang thời Trần, những tranh chấp về ruộng đất và đã diễn ra phổ biến c ng với xu hướng tư nhân hóa ruộng đất ngày càng tăng.
Nửa sau thế kỷ XIV, nước Đại Việt cuối vương triều Trần đã lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Sự bất mãn của dân chúng đã lên tới đỉnh điểm bởi những xung đột quanh việc chiếm đoạt đất đai của triều đình. Nhà Trần đã chiếm một lượng ruộng đất của nông dân hoặc của công xã để cho các vương hầu lập thái ấp, ngoài ra chính các vương hầu này cũng lợi dụng uy quyền của mình để chiếm đoạt thêm những ruộng đất mà họ có thể lấy được từ tay nông dân. Sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất trong giai đoạn này đã dẫn đến sự phát triển của thành phần địa chủ bình dân, chính vì vậy đã xuất hiện mối quan hệ nông nô - tá điền.
So với những mối quan hệ trước 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như quan hệ địa chủ quý tộc và người sản xuất, thì mối quan hệ nông nô - tá điền có những điểm tiến bộ nhất định. Một là người sản xuất (tá điền) đã được tự do hơn, họ ít bị ràng buộc về thân thể. Hai là sự năng động, tự chủ của người sản xuất đã được cải thiện, do đó năng suất lao động được nâng cao và làm ra được khối lượng sản phẩm nhiều hơn trước. Với hai hình thức sở hữu c ng tồn tại - công và tư - nhưng sở hữu tư có chiều hướng gia tăng.
Do vậy, mâu thuẫn kinh tế cơ bản trong xã hội bấy giờ là mâu thuẫn về ruộng đất giữa công hữu và tư hữu. Mâu thuẫn này thể hiện trên hai phương diện: thứ nhất là mâu thuẫn giữa sở hữu toàn quốc (trên danh nghĩa là Nhà nước) với sự chiếm dụng của những tập thể công xã; thứ hai là mâu thuẫn giữa chế độ sở hữu công xã với sở hữu tư nhân. Chính những mâu thuẫn tuy không mang tính đối kháng gay gắt này, nhưng đã khiến chính quyền trung ương tập quyền nhà Trần phải có những giải pháp ph hợp để duy trì sự tồn tại của triều đình. Một trong những thách thức của chính quyền nhà Trần bấy giờ khi giải quyết vấn đề ruộng đất tư nhân lúc này đã trở thành hàng hóa trao đổi, nó sẽ phá vỡ kết cấu phân chia ruộng đất truyền thống, điều đó kéo theo hàng loạt biến động của xã hội.
Vào năm 1254, đời vua Trần Thái Tông, nhà nước “bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền, cho nhân dân mua làm của tư” [07, tr. Sau đó, vào năm 1266, vua Trần Thánh Tông đã “xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang lập làm điền trang. Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy” [07, tr. Từ hai văn bản của hai vị vua Trần kể trên, đã cho thấy ruộng đất tư và chế độ điền trang phát triển và một tầng lớp địa chủ không chỉ có vương hầu mà còn có cả địa chủ không quan tước và địa chủ nhà ch a, hai thành phần này không phải là ít.
Chính vì vậy, vào khoảng giữa thế kỷ XIII, hầu hết ruộng đất truyền thống đều có sự thay đổi về cơ cấu, trong đó dựa trên chế độ sở hữu chủ yếu do Nhà nước quản lý bao gồm ruộng đất Nhà nước quản lý trực tiếp, ruộng đất phong cấp và ruộng đất công do làng xã quản lý; ngoài ra cũng có một lượng ruộng đất mới của giai cấp địa chủ và tiểu nông - đây là những giai tầng rất năng động và nhạy bén trong vấn đề ruộng đất. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời Trần, diện tích ruộng đất được mở rộng chủ yếu dựa trên hai yếu tố, một là khai hoang lấn biển, hai là mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Và trong đó, sự thay đổi trong cơ cấu giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân luôn có sự thay đổi và biến động, nhưng đều theo xu hướng ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nước dần bị thu hẹp và ruộng đất do tư nhân quản lý ngày một tăng lên. Tuy nhiên, ngay cả ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước cũng có sự biến đổi, từ chỗ ruộng đất công chiếm đa số, nay đã chuyển dần cho làng xã quản lý.
Việc thay đổi cơ cấu trong sở hữu Nhà nước và tư nhân ở vấn đề ruộng đất thời Trần là do những ruộng đất của Nhà nước được phong cấp cho những vương hầu, tư nhân mua hoặc cá nhân tự lấn chiếm và tất nhiên những ruộng đất tư nhân này chủ yếu tập trung ở trong tay giai cấp địa chủ. Với sự thay đổi trong cơ cấu ruộng đất như trên, người nông dân trong xã hội thời Trần nói chung và cuối Trần nói riêng khi sản xuất trên ruộng công được phân chia và phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước mà người trực tiếp thu thuế là bộ máy quản lý làng xã, hoặc nộp tô cho địa chủ. Bộ phận khác trong tay không có ruộng thì trở thành nông nô - nô tỳ và những người này chịu sự bóc lột trực tiếp của Nhà nước hoặc địa chủ, họ bị giai cấp thống trị bóc lột giá trị thặng dư dưới các hình thức tô thuế, địa tô và một số hình thức không điển hình khác. Từ những chuyển biến, thay đổi trong vấn đề đất đai và ruộng đất của thời Trần, nên cuối thế kỷ XIV, Nhà nước đã gặp phải nhiều khó khăn, thách thức: một là kinh tế của Nhà nước trở nên suy kiệt, hai là nông dân ngày càng nghèo dẫn tới mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, vì vậy các cuộc khởi nghĩa nông dân và nô tỳ nổ ra như là hệ quả tất yếu.
Những khó khăn này không dễ giải quyết trong hoàn cảnh triều đình phong kiến trung ương lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Để giải quyết vấn đề khủng hoảng, nhất là giải quyết sự khó khăn, đói kém của dân nghèo, triều đình phong kiến cuối thời Trần đã phải kêu gọi nhà giàu ở các địa phương đưa thóc ra phát chẩn cho dân nghèo và những nhà giàu này được Nhà nước trả b ng tiền tương đương với lượng thóc, điều này khiến lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội cũng tăng cao, dẫn đến nguy cơ đồng tiền mất giá, kinh tế lạm phát. Năm 1362 “lại hạ chiếu cho các nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, ban chức tước cho họ theo thứ tự khác nhau” [07, tr. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lúc này, đồng tiền có tác động rất lớn đối với kinh tế và xã hội, nó làm thay đổi số phận và địa vị của con người trong xã hội, “Đời Minh Tông, Ngô Dẫn - trại chủ xã Đại Lãi bắt được viên ngọc rết rất lớn đem đến Vân Đồn.
Các chủ thuyền buồm tranh nhau mua. Một chủ thuyền muốn có được vật lạ đó, dốc hết của cải để mua. Ngô Dẫn trở nên giàu có. Minh Tông đem con gái là công chúa Nguyệt Sơn gả cho Ngô Dẫn” [07, tr.
Như vậy, một nông dân đã bỗng chốc biến thành quý tộc nhờ vào sức mạnh của đồng tiền. Mặt khác, một ông vua Trần đã coi trọng đồng tiền hơn con gái mình thì người ta cũng dễ dàng hình dung ra xã hội cuối Trần và triều đình nhà Trần đã không còn giữ được nề nếp và trật tự của nó nữa. Nhà Trần vốn có luật lệ không gả con gái cho người ngoài gia tộc Trần. Vào thời điểm này, ngoại thương cũng phát triển nhưng chủ yếu là b ng đường biển.
Vì người nước ngoài lúc này vào nước ta chủ yếu là mua sản vật như ngọc trai hay sản vật lạ và bán cho Nhà nước những hàng hoá xa xỉ đáp ứng nhu cầu ăn chơi, hưởng thụ xa hoa lãng phí của vua quan chứ không phải mục đích phát triển giao thương kinh tế. Nhà nước Trần đại diện cho giai cấp phong kiến quý tộc của nó lúc này đang đi vào thời kỳ suy thoái trầm trọng, không còn tạo ra động lực hay cơ may nào để phát triển xã hội. Những cuộc nổi dậy của nông dân và nô tỳ liên tiếp nổ ra càng làm cho xã hội thêm bất ổn. Chính trị - xã hội Kinh tế luôn là yếu tố quyết định cho phát triển chính trị - xã hội, khi nền kinh tế khủng hoảng, khi mâu thuẫn trong kinh tế phát sinh nếu không được giải quyết thì tất yếu sẽ dẫn đến những khủng hoảng trong chính trị và xã hội.