Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN TRẺ EM Buôn bán người hình thành, phát triển và tồn tại kéo dài trong suốt lịch sử của nhân loại, từ khi hình thành hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ cho đến nay. Buôn bán người đã bị cả xã hội lên án và để chống lại tình trạng này, trong những năm đầu thế kỷ XX, một số Công ước quốc tế về chống buôn bán người đã được ký kết như Công ước bãi bỏ buôn bán nô lệ da trắng năm 1904, Công ước ngăn chặn tệ buôn bán phụ nữ năm 1910, Công ước về chống buôn bán nô lệ năm 1926. Sau khi được thành lập, Liên hợp quốc đã có nhiều văn bản pháp lý đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến phòng chống tội phạm buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em và bảo vệ các nạn nhân của tội phạm này để thay thế các văn bản quốc tế trước đó như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966, Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Công ước về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000. và một số Nghị định thư bổ sung cho các công ước nêu trên như: Nghị định thư không bắt buộc năm 2000 bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em về buôn bán trẻ em, mua dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em năm 2000 bổ sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia.
Cuộc đấu tranh chống tội phạm buôn bán người ngày càng được nhiều nước trên thế giới hưởng ứng, tham gia và đã thu được những kết quả nhất định. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM BUÔN BÁN NGƯỜI, BUÔN BÁN TRẺ EM Khái niệm buôn bán người, buôn bán trẻ em là một trong những vấn đề nóng bỏng và gây tranh luận trong các cuộc hội thảo trong nước và các hội nghị quốc tế. Việt Nam cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới đã và đang có những hoạt động nỗ lực nhằm ngăn chặn và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Tuy nhiên, vẫn có những khác biệt của pháp luật quy định về tội mua bán người, mua bán trẻ em (theo pháp luật của Việt Nam) và tội buôn bán người (theo quy định của pháp luật quốc tế).
Để có thể đưa ra được khái niệm mua bán người, mua bán trẻ em phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế (vì hiện nay Việt Nam đã ra nhập và ký kết nhiều văn kiện quốc tế quy định về buôn bán người) và phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như tình hình, hoàn cảnh thực tế của đất nước thì cần phải nghiên cứu toàn diện và sâu rộng các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước, trên cơ sở đó đưa ra khái niệm mua bán người, mua bán trẻ em. Khái niệm buôn bán người theo quy định của pháp luật quốc tế Mua bán người, mua bán trẻ em là một loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà loài người tiến bộ trên khắp thế giới đều lên án rất mạnh mẽ. Tội phạm mua bán người làm rối loạn tình hình an ninh, trật tự, xâm phạm nhân quyền. Bên cạnh đó những hậu quả của mua bán người để lại những nỗi mất mát lớn cho các nạn nhân đặc biệt về mặt tinh thần.
Tuy với những đặc điểm chung của cùng một loại hình tội phạm nhưng quan niệm về tội mua bán người ở các quốc gia so với quan niệm của các quy định quốc tế có sự khác biệt đáng kể, tùy mức độ rộng hẹp của cách hiểu Pháp luật quốc tế không quy định khái niệm mua bán người, mua bán trẻ em mà quy định chung về khái niệm buôn bán người. Nạn buôn người là hình thức hiện đại của nạn nô lệ, đang phá hủy gia đình và cộng đồng trên 18 khắp thế giới. Buôn bán người chính là hình thức mua bán, chiếm hữu nô lệ, coi con người là một loại hàng hóa và tước đoạt của họ những quyền cơ bản về tự do một cách trái pháp luật và vô đạo đức. Do có những đặc điểm riêng về truyền thống lịch sử, văn hóa xã hội, điều kiện kinh tế mà pháp luật của mỗi quốc gia quy định về khái niệm buôn bán người khác nhau.
Pháp luật của một số quốc gia quy định khái niệm "buôn bán người" theo những chuẩn mực pháp lý quốc tế, thì cũng có một số quốc gia khác, khái niệm này chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc có những điểm không tương đồng với quy định của pháp luật quốc tế. Khái niệm "buôn bán người" được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế. Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Nghị định thư Palermo). Văn kiện này được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2000 và có hiệu lực ngày 25 tháng 12 năm 2003.
Theo quy định của Nghị định thư này, khái niệm buôn bán người (trong đó có phụ nữ, trẻ em) được quy định như sau: a) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe dọa dùng bạo lực hay cách thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác vì mục đích bóc lột. Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bao gồm bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự như nô lệ, khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể. b) Việc một nạn nhân của nạn buôn bán người chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu tại điểm (a) trên đây sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong điểm (a) đã được sử dụng. 19 c) Việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận trẻ em với mục đích bóc lột sẽ bị coi là buôn bán người thậm chí khi không có những hình thức được nêu ở điểm (a) trên đây.
d) "Trẻ em" có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi [36]. Khái niệm buôn bán người theo quy định của Nghị định thư Palermo tập trung vào các yếu tố như: Thứ nhất, về hành vi, buôn bán người bao gồm: hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người. Thứ hai, về phương thức thực hiện hành vi là đe dọa hoặc sử dụng vũ lực hoặc các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa đảo, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị thương tổn, đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với người khác. Thứ ba, về mục đích là nhằm bóc lột người bị mua bán (bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, làm khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể).
Theo quy định của Nghị định thư Palermo, sự đồng ý của trẻ em là vô hiệu và bất kỳ sự tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận trẻ em nhằm mục đích bóc lột đều cấu thành tội buôn bán người, cho dù không có việc sử dụng vũ lực, cưỡng ép, man trá, lừa gạt. Đây là khái niệm có tính chính thống về buôn bán người theo tinh thần Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư bổ sung Công ước về chống buôn bán người. Khái niệm này được sử dụng phổ biến trong hoạt động chống buôn bán người trên thế giới và được nội luật hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia. Khái niệm này cũng đã bao hàm mọi hình thức buôn người và không chỉ giới hạn trong buôn người nhằm mục đích bóc lột tình dục mà còn đối với các mục đích khác.
Khái niệm này đã tập trung vào các tình trạng cưỡng bức lao động, làm khổ sai, những hành vi như bắt 20 làm nô lệ và tương tự. Khái niệm không chỉ tập trung vào đối tượng là phụ nữ mà bao hàm mọi giới nam nữ, đều có thể là nạn nhân. Khái niệm không chỉ nói đến nạn nhân bị buôn bán qua biên giới được quốc tế công nhận mà xét đến cả những người bị buôn bán ngay trong lãnh thổ của một quốc gia, từ khu vực này đến khu vực khác. Trừ trường hợp người bị buôn bán dưới 18 tuổi, Nghị định thư đòi hỏi phải có yếu tố cản trở nguyện vọng tự do và được thông tin đầy đủ của nạn nhân.
Ngoài Nghị định thư Palermo, một số văn kiện pháp luật quốc tế cũng đưa ra khái niệm liên quan đến buôn bán người, trong đó có nhiều điểm tương đồng với khái niệm của Nghị định thư chống buôn bán người, nhưng do được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, nên không một khái niệm nào đầy đủ, toàn diện như khái niệm được nêu trong Nghị định thư Palermo. Theo quy định của Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung cho Công ước quyền trẻ em thì mua bán trẻ em là bất kỳ hành động giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người này sang một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay bất cứ đồ vật gì khác. Khái niệm này có điểm rộng hơn khái niệm của Nghị định thư Palermo (không quy định mục đích bóc lột nạn nhân là yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm), nhưng lại có điểm hẹp hơn khái niệm của Nghị định thư Palermo ở chỗ chỉ giới hạn hành vi chuyển giao trẻ em vì lợi nhuận, tức là chỉ điều chỉnh hành vi mua hoặc bán.