đặt vấn đề và câu hỏi nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Bối cảnh chính sách và Dự án Năng lượng nông thôn II. Chương này trình bày chủ trương xã hội hóa thị trường điện và thực trạng mô hình kinh doanh điện nông thôn hiện nay, đồng thời giới thiệu Dự án Năng lượng nông thôn II và kết quả thẩm định kinh tế của NHTG. Chương 3: Khung phân tích và thông tin đầu vào của mô hình tài chính điện nông thôn.
Chương 4: Phân tích sự vững mạnh về mặt tài chính của mô hình kinh doanh điện nông thôn bằng phương pháp phân tích lợi ích - chi phí tài chính theo mô hình chiết khấu ngân lưu, cùng với các phân tích về độ nhạy và mô phỏng của mô hình tài chính. Chương 5: Giải pháp nâng cao tính bền vững về mặt tài chính của mô hình kinh doanh điện nông thôn. Căn cứ vào kết quả phân tích ở Chương 4, trong chương 5, phương pháp phân tích độ nhạy tiếp tục được áp dụng để tìm ra giải pháp hữu hiệu cho sự bền vững về mặt tài chính của mô hình kinh doanh điện nông thôn. Chương 6: Kết luận.
Đây là chương cuối cùng của luận văn. Nội dung của chương này bao gồm phần tóm tắt toàn bộ nội dung của luận văn và nêu ra các giải pháp lựa chọn chính sách. Một số giới hạn trong quá trình nghiên cứu cũng được nêu ra trong phần này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH CHÍNH SÁCH VÀ DỰ ÁN NĂNG LƯỢNG NÔNG THÔN II 2.
Chủ trương xã hội hóa thị trường điện Ngành điện Việt Nam đã và đang đối mặt với thách thức to lớn. Sự tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian qua đòi hỏi nhu cầu điện trong những năm tới phải tăng trưởng rất nhanh ở mức 15%, thậm chí cao hơn (NHTG, 2006). Các vấn đề như thiếu hụt nguồn điện; độc quyền trong khâu sản xuất, truyền tải, phân phối; nhu cầu đầu tư tăng cao trong khi nguồn lực tự có không đáp ứng được; và các vấn đề khác như chất lượng dịch vụ điện, hiệu suất hệ thống đã đặt ngành điện trước nhu cầu phải cải tổ một cách toàn diện. Luật điện lực được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2005 đã đưa ngành điện Việt Nam vào một chương trình cải tổ dài hạn.
Chương trình này sẽ thay đổi căn bản Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về tính pháp lý, quyền sở hữu, cơ cấu quản lý của ngành, và cách thức Chính phủ điều tiết ngành điện. Một điểm nổi bật là chủ trương xã hội hóa thị trường điện, thể hiện rõ ở Điều 4 Luật Điện lực với những đảm bảo hỗ trợ để mọi cá nhân, tổ chức đều có thể tham gia vào loại hình kinh doanh này. Điều 4 của Luật Điện lực về chính sách phát triển điện lực đã nêu rõ chủ trương của Nhà nước Việt Nam là phát triển một thị trường điện lực công khai, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh; đặc biệt là thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động phát điện, phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện và tư vấn chuyên ngành điện lực. Điều này cho thấy trong tương lai, Nhà nước sẽ không còn nắm độc quyền đối với ngành điện lực ở tất cả các khâu, từ sản xuất đến bán lẻ điện cho khách hàng cuối cùng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Một cách cụ thể, Quyết định 26/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra lộ trình phát triển thị trường điện lực, trong đó thị trường bán lẻ điện cạnh tranh sẽ được phát triển từ sau năm 2022. Các thị trường khác được phát triển ở giai đoạn trước theo chuỗi sản xuất của ngành điện, thị trường phát điện cạnh tranh từ năm 2005 và thị trường bán buôn điện cạnh tranh từ năm 2015. Trên thực tế, việc phát triển thị trường bán lẻ cạnh tranh gắn nhiều đến chương trình điện khí hóa nông thôn vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiếp cận điện lưới quốc gia của khu vực này. Hiện nay, ngành kinh doanh bán lẻ điện tại khu vực nông thôn không hoàn toàn thuộc về EVN mà một phần do các tổ chức, cá nhân đứng ra đảm nhiệm.
Đây là cơ sở cho việc phát triển thị trường cạnh tranh bán lẻ và sẽ là không cần thiết dời việc phát triển thị trường này đến năm 2022 mới triển khai, khi mà sự cạnh tranh đã tồn tại cho dù ở mức độ thấp và còn nhiều bất cập đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thị trường này. Vấn đề này sẽ được đề tài làm rõ trong phần sau. Thực trạng mô hình kinh doanh điện nông thôn Hoạt động phân phối điện nông thôn tại Việt Nam hiện đang tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở các vùng nông thôn, bên cạnh các chi nhánh điện của EVN, các cộng đồng địa phương sở hữu và vận hành phần lớn hệ thống lưới điện phân phối.
Hiện trạng này xuất phát từ lịch sử hình thành và phát triển các công trình điện nông thôn được xây dựng từ nhiều nguồn vốn khác nhau theo phương châm "nhà nước và nhân dân, trung ương và địa phương cùng làm".1 minh họa hiện trạng phân phối điện nông thôn từ năm 2004 trở về trước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CÔNG TY ĐIỆN LỰC TỈNH THUỘC EVN Bán buôn Tổ chức ngoài EVN Chi nhánh công ty Doanh Tổ điện xã nghiệp nhà Ban quản lý điện lực tỉnh tại nước điện xã địa phương Cai thầu tư nhân Bán lẻ Khách Khách Khách Khách Khách Khách hàng hàng hàng hàng hàng hàng Sơ đồ 2.1: Hệ thống phân phối điện nông thôn trước năm 2004 (Nguồn: Tác giả, theo tình hình thực tế) Cho đến năm 2004, các đơn vị phân phối điện địa phương vẫn tồn tại dưới các hình thức không chính thức như các tổ điện xã hoặc các tổ chức tương tự ở hai phần ba các xã đã được cấp điện của Việt Nam (NHTG, 2006). Trên thực tế, mô hình quản lý điện này có nhiều bất cập thể hiện ở hai vấn đề chính. Thứ nhất, các tổ chức kinh doanh điện không chính thức không có tư cách pháp nhân; nhân lực không có trình độ chuyên ngành điện lực; hoạt động kinh doanh không có sổ sách kế toán rõ ràng nên rất khó khăn cho quá trình kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng.
Thứ hai, các tổ chức này đã không thực hiện đúng giá bán điện áp dụng đối với khách hàng khu vực nông thôn, có nơi từ 800 đến 1.900 đồng/kwh so với mức quy định của nhà nước là 700 đồng/kwh. (Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án RE II Tỉnh Thái Nguyên, năm 2004) Trước những bất cập này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2001/NĐ- CP ngày 02/8/2001 về hoạt động điện lực và sử dụng điện (và được chi tiết hóa bằng Quyết định số 27/2002/QĐ-BCN ngày 18/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nghiệp về việc ban hành Quy định điều kiện, trình tự và thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực). Theo quy định này, các tổ chức, cá nhân kinh doanh điện nêu trên phải chuyển đổi thành các mô hình quản lý điện nông thôn tiên tiến, hợp pháp, kinh doanh điện theo giấy phép hoạt động điện lực.2 minh họa hệ thống phân phối điện nông thôn sau quá trình chuyển đổi. CÔNG TY ĐIỆN LỰC TỈNH THUỘC EVN Bán buôn Tổ chức ngoài EVN Chi nhánh Công ty Doanh HTX dịch điện lực tỉnh tại nghiệp nhà vụ điện địa phương nước Công ty cổ phần Bán lẻ Khách Khách Khách Khách Khách Khách hàng hàng hàng hàng hàng hàng Ghi chú: HTX - Hợp tác xã Sơ đồ 2.2: Hệ thống phân phối điện nông thôn sau khi chuyển đổi (Nguồn: Tác giả, theo tình hình thực tế) Tính đến tháng 6 năm 2009, trong 8.524 xã có điện trên toàn quốc, 2.913 xã là khách hàng trực tiếp của EVN, chiếm khoảng một phần ba tổng số xã.611 xã còn lại do các tổ chức kinh doanh điện ở địa phương quản lý bao gồm các HTX (4.811 xã, chiếm khoảng 85%), các doanh nghiệp nhà nước ngoài EVN, các công ty cổ phần và một số hộ kinh doanh cá thể nắm giữ.vn, 2009) Về cơ bản, các tổ chức, cá nhân kinh doanh điện nông thôn đã và sẽ được chuyển đổi thành các công ty cổ phần và HTX, trong đó mô hình HTX điện ở nông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thôn tồn tại dưới hai hình thức: HTX chuyên dịch vụ điện năng và HTX dịch vụ tổng hợp trong đó có dịch vụ điện năng.
Sự chuyển đổi này đạt được nhiều ưu điểm. Các công ty cổ phần và HTX trở thành các tổ chức có đăng ký kinh doanh hợp pháp và chế độ sổ sách kế toán theo luật định. Điều này làm việc kiểm tra, giám sát các quy định, đặc biệt là giá điện, được dễ dàng hơn. Thông qua quá trình cấp giấy phép hoạt động điện lực, nhân lực chuyên ngành điện của các tổ chức được đảm bảo và cơ cấu quản lý, điều hành cũng trở nên khoa học hơn.
Tuy nhiên, vấn đề giá bán điện quá cao đến khách hàng nông thôn cũng chưa hẳn được giải quyết. Tại các xã nghèo hoặc vùng sâu, vùng xa với tỷ lệ tổn thất điện năng lớn, việc áp dụng giá điện theo quy định của nhà nước sẽ khó thực hiện được vì sản lượng điện thấp và khấu hao lớn, chi phí cao. Điều này sẽ tiếp tục dẫn tới việc áp giá vượt quá mức cho phép mà Nhà nước khó có thể kiểm soát. Thực tế cho thấy tại nhiều nơi, đường dây hạ thế đã cũ nát, tiết diện đường dây nhỏ, thiết kế không theo yêu cầu kỹ thuật, bán kính cấp điện xa.
Về mặt quản lý, công tác duy tu, bảo dưỡng ít được thực hiện thường xuyên, kỹ năng quản lý về điện của các HTX thiếu chuyên nghiệp, hệ thống đo đếm điện năng không được kiểm định thường xuyên. Những vấn đề trên khiến tỷ lệ tổn thất điện năng quá cao (Nguyễn Trường, 2009). Hầu hết, tỷ lệ điện năng hao tổn ở mức 25% - 30%, cá biệt có những nơi lên đến 40%. Tổn thất điện năng được chia đều cho các hộ dân nên giá điện tăng lên đến 1.400 đồng/kWh so với mức 700 đồng/kWh mà nhà nước quy định.