Tổng quan nghiên cứu

Tính đến cuối năm 2012, thị trường tài chính Việt Nam ghi nhận sự mất cân đối sâu sắc khi dư nợ tín dụng nội địa qua hệ thống ngân hàng chiếm tới 115,4% GDP, gấp khoảng 6,5 lần tổng quy mô thị trường trái phiếu (17,8% GDP). Đáng chú ý, trái phiếu chính phủ chiếm hơn 90% tổng dư nợ trái phiếu lưu hành, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn dưới 2,3% GDP. Bất chấp quy mô thị trường chung còn nhỏ bé, hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ giai đoạn 2008 - 2011 lại bùng nổ mạnh mẽ với sự tham gia của các ngân hàng thương mại trong vai trò người mua chính.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là phần lớn các đợt phát hành này không tuân theo các nguyên tắc thị trường vốn thông thường mà thực chất là các khoản cấp tín dụng trá hình từ ngân hàng cho doanh nghiệp. Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phan Anh Tiến, thực hiện tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright năm 2014 dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, tập trung kiểm chứng ba mục tiêu trọng tâm:

  1. Xác định bản chất thực sự của các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn 2008 - 2011 là công cụ tài chính thực thụ hay tín dụng trá hình.
  2. Phân tích các hệ quả tiêu cực của tín dụng trá hình đối với sự an toàn của hệ thống ngân hàng và sự phát triển của thị trường vốn.
  3. Đề xuất các giải pháp chính sách toàn diện nhằm xóa bỏ tín dụng trá hình tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thị trường tài chính Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2011, đồng thời mở rộng đối chiếu dữ liệu đến năm 2012 và 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi bóc tách cơ chế lách trần tín dụng 15% vốn tự có quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12. Nghiên cứu làm sáng tỏ nguyên nhân sâu xa dẫn đến các cuộc tái cơ cấu, sáp nhập bắt buộc như vụ sáp nhập Ngân hàng Nhà Hà Nội vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội năm 2012 và hợp nhất ba ngân hàng Ngân hàng Sài Gòn, Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa, Ngân hàng Đệ Nhất năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng phân tích dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các lý thuyết kinh tế tài chính và quản trị học hiện đại:

  • Lý thuyết tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp: Theo Frederic (2012), Levine (1999) và Sakurai (2001), các quốc gia có cấu trúc tài chính dựa vào ngân hàng như Đức và Nhật Bản thường nghiêng về tài trợ gián tiếp, nơi ngân hàng đóng vai trò trung gian đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp. Ngược lại, các nền kinh tế như Mỹ và Anh phát triển mạnh tài trợ trực tiếp qua thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Tại các hệ thống tài trợ gián tiếp thống trị, ngân hàng có xu hướng tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô trong việc sản xuất thông tin và giám sát ủy thác để chuyển hóa các khoản nợ vay thành công cụ nợ.
  • Lý thuyết ủy quyền - thừa hành (Principal-Agent Theory): Được phát triển bởi Ross (1973), Jensen và Meckling (1976), lý thuyết này giải thích sự xung đột lợi ích giữa người ủy quyền (cổ đông, người gửi tiền) và người thừa hành (ban điều hành ngân hàng). Trong lĩnh vực ngân hàng, mâu thuẫn này bộc lộ khi các cổ đông lớn hoặc ban lãnh đạo đưa ra các quyết định cấp tín dụng mạo hiểm, chỉ định rót vốn cho các doanh nghiệp sân sau thông qua hình thức mua trái phiếu nhằm lách các rào cản an toàn vốn.
  • Khung điều kiện thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Luengnaruemitchai và Ong (2005) cùng Shimizu (2008) chỉ ra rằng một thị trường trái phiếu lành mạnh đòi hỏi cơ sở nhà đầu tư đa dạng, hệ thống xếp hạng tín nhiệm độc lập, quy trình phát hành minh bạch và tính thanh khoản cao trên thị trường thứ cấp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: tín dụng trá hình (ngân hàng mua trái phiếu riêng lẻ và nắm giữ đến ngày đáo hạn), sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp, chênh lệch giá mua bán (bid-ask spread) và rủi ro thanh khoản từ chênh lệch kỳ hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định tính chuyên sâu kết hợp phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) thực nghiệm:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên của 13 ngân hàng thương mại cổ phần điển hình giai đoạn 2008 - 2012, mở rộng khảo sát lên 36 ngân hàng năm 2010 và 24 ngân hàng năm 2012 với tổng dư nợ nền kinh tế khoảng 1,7 triệu tỷ đồng. Số liệu vĩ mô và thị trường nợ được trích xuất từ Ngân hàng Thế giới (World Bank), cơ sở dữ liệu AsianBondsOnline của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB giai đoạn 2008 - 2013) và cổng thông tin tài chính Cafef.vn.
  • Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào các ngân hàng có tỷ trọng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cao bất thường và các doanh nghiệp phát hành trái phiếu quy mô hàng nghìn tỷ đồng trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng, chứng khoán (như Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Địa ốc Phương Trang, Vinashin, Đô thị Kinh Bắc, Công ty Đầu tư An Đông).
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Phương pháp phân tích tình huống kết hợp đối chiếu báo cáo tài chính cho phép bóc tách bản chất kinh tế thực sự của các hợp đồng mua bán trái phiếu, nhận diện hành vi lách luật và chu chuyển vốn giữa các thực thể có quan hệ sở hữu ngầm mà các mô hình hồi quy định lượng khó phát hiện.
  • Timeline nghiên cứu: Dữ liệu tập trung phân tích sâu chu kỳ 2008 - 2011, theo dõi diễn biến xử lý nợ xấu và tái cơ cấu đến hết năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phần lớn trái phiếu doanh nghiệp phát hành tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011 mang bản chất là tín dụng trá hình. Dữ liệu từ 13 ngân hàng thương mại cho thấy tỷ trọng dư nợ trái phiếu doanh nghiệp nắm giữ đến ngày đáo hạn so với tổng dư nợ trái phiếu nắm giữ đạt mức rất cao: 53% năm 2008, tăng vọt lên 72% năm 2009, đạt đỉnh 92% năm 2010 và duy trì ở mức 77% năm 2011. Tính đến cuối năm 2012, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp tại 24 ngân hàng đạt 121,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 7,02% tổng dư nợ cho vay. Khoảng 90% người mua trái phiếu doanh nghiệp là các ngân hàng thương mại, trong khi hầu hết các trái phiếu này đều phát hành riêng lẻ, không niêm yết và không có giao dịch trên thị trường thứ cấp.

Thứ hai, tín dụng trá hình đã vô hiệu hóa nghiêm trọng các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là giới hạn cấp tín dụng 15% vốn tự có theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12:

  • Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa mua 6.000 tỷ đồng trái phiếu của Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát vào năm 2010, tương đương 154% vốn tự có của ngân hàng (3.902 tỷ đồng).
  • Ngân hàng Phương Tây mua 1.500 tỷ đồng trái phiếu của Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc vào năm 2009, chiếm 131,9% vốn tự có của ngân hàng (1.137 tỷ đồng).
  • Ngân hàng Sài Gòn mua 2.800 tỷ đồng trái phiếu của Công ty Cổ phần Đầu tư An Đông năm 2008 (chiếm 99,7% vốn tự có) và 3.200 tỷ đồng trái phiếu của Công ty Cổ phần Đầu tư Địa ốc Ô tô Phương Trang năm 2009 (chiếm 69,8% vốn tự có).
  • Các ngân hàng còn lách quy định cấm cấp tín dụng cho công ty chứng khoán trực thuộc (trường hợp Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Đại Á và Chứng khoán ACBS với 700 tỷ đồng) hoặc cấp vốn cho cổ đông pháp nhân có đại diện góp vốn (Ngân hàng An Bình mua 1.000 tỷ đồng trái phiếu Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tương đương 21,5% vốn tự có).

Thứ ba, tín dụng trá hình là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến gia tăng nợ xấu và khủng hoảng thanh khoản hệ thống. Hơn 60% trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam có kỳ hạn từ 1 đến 3 năm, tập trung vào lĩnh vực bất động sản và xây dựng - hai lĩnh vực có tỷ lệ nợ xấu năm 2012 lên tới 15,35% và 11,32%. Điển hình, Ngân hàng Nhà Hà Nội nắm giữ 600 tỷ đồng trái phiếu của Vinashin (chiếm 20,1% vốn tự có), dẫn tới mất thanh khoản trầm trọng, phải vay ròng trên thị trường liên ngân hàng 7.120 tỷ đồng năm 2011 (bằng 37,8% tiền gửi khách hàng) và buộc phải sáp nhập vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội năm 2012. Tương tự, Ngân hàng Sài Gòn vay ròng liên ngân hàng 12.547 tỷ đồng (30,68% tiền gửi) và Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa vay ròng 7.202 tỷ đồng năm 2010, dẫn đến quyết định hợp nhất bắt buộc vào tháng 12/2011.

Thứ tư, tín dụng trá hình làm tê liệt thị trường thứ cấp và cản trở sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Cơ sở nhà đầu tư bị thu hẹp cục bộ khi ngân hàng thương mại chiếm 90% và công ty bảo hiểm chiếm 8%. Chênh lệch giá mua bán (bid-ask spread) tại Việt Nam cao gấp nhiều lần so với Hàn Quốc, Malaysia và Hồng Kông, làm triệt tiêu tính thanh khoản và khiến quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam luôn ở mức thấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng này bắt nguồn từ cấu trúc sở hữu chéo phức tạp giữa ngân hàng và doanh nghiệp, kết hợp với các rào cản hành chính và chi phí phát hành trái phiếu ra công chúng còn cao. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt quy định cấm gia hạn nợ trái phiếu đã tạo kẽ hở cho các ngân hàng thực hiện đảo nợ (như trường hợp Công ty Cổ phần Năm Bảy Bảy được Ngân hàng Quốc tế Việt Nam gia hạn khoản nợ trái phiếu 350 tỷ đồng từ năm 2012 sang năm 2016).

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, thực trạng của Việt Nam giai đoạn này tương đồng với Hàn Quốc và Malaysia trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khi hơn 80% trái phiếu doanh nghiệp do ngân hàng nắm giữ và bảo lãnh. Tuy nhiên, sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã mở rộng cơ sở nhà đầu tư sang các hộ gia đình và quỹ đầu tư, đưa quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt hơn 60% GDP vào năm 2012. Malaysia cũng thực hiện Kế hoạch tổng thể khu vực tài chính năm 2001 để giảm chi phí phát hành, giúp quy mô trái phiếu doanh nghiệp đạt 42,8% GDP năm 2012.

Toàn bộ dữ liệu của nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua các biểu đồ so sánh cơ cấu thị trường tài chính, biểu đồ xu hướng nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn (tăng từ 53% lên 92%) và bảng tổng hợp các trường hợp vượt trần cấp tín dụng nhằm làm nổi bật mức độ rủi ro hệ thống.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Xóa bỏ sở hữu chéo và giảm thiểu các trường hợp đồng chủ sở hữu giữa ngân hàng và doanh nghiệp:
  • Thực hiện thoái vốn bắt buộc đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và nhóm cổ đông lớn tư nhân đang chi phối vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần.
  • Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ sở hữu của một cổ đông và người có liên quan về đúng hạn mức luật định, chấm dứt hoàn toàn tình trạng cấp vốn vượt giới hạn 15% vốn tự có cho các doanh nghiệp sân sau.
  • Timeline thực hiện: Giai đoạn 2014 - 2016.
  • Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Bộ Tài chính và Thanh tra Chính phủ.
  1. Tăng cường giám sát việc tuân thủ Thông tư 28/2011/TT-NHNN và kiểm soát chặt chẽ giới hạn tín dụng:
  • Tích hợp toàn bộ dư nợ mua trái phiếu doanh nghiệp vào hệ thống tính toán hạn mức tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của từng ngân hàng.
  • Đặt mục tiêu kiểm soát 100% các khoản đầu tư trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ, xử phạt nghiêm các hành vi chuyển nhóm tài sản để né trần cấp tín dụng, kéo giảm tỷ lệ nợ xấu toàn ngành xuống dưới 3%.
  • Timeline thực hiện: Định kỳ hàng quý và kiểm toán độc lập hàng năm.
  • Chủ thể thực hiện: Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Ban Kiểm soát các ngân hàng thương mại.
  1. Hoàn thiện khung pháp lý về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và cấm gia hạn nợ trái phiếu:
  • Sửa đổi Nghị định 90/2011/NĐ-CP theo hướng quy định rõ ràng trái phiếu doanh nghiệp không được phép gia hạn nợ tự động như các khoản vay thông thường nhằm ngăn chặn hành vi đảo nợ ngầm.
  • Chuẩn hóa 100% điều kiện phát hành riêng lẻ, yêu cầu bắt buộc đăng ký và lưu ký tập trung để giám sát dòng tiền trả nợ gốc khi đáo hạn.
  • Timeline thực hiện: Hoàn thành trong năm 2014 - 2015.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
  1. Phát triển hạ tầng thị trường vốn và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư:
  • Khẩn trương thành lập và cấp phép cho các tổ chức định mức tín nhiệm độc lập nội địa; ban hành chính sách ưu đãi thuế đối với lãi trái tức nhằm thu hút các định chế tài chính phi ngân hàng.
  • Nâng tỷ trọng nắm giữ trái phiếu của các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm lên trên 30% vào năm 2020, kéo giảm chênh lệch giá mua bán (bid-ask spread) xuống mức tương đương các nước trong khu vực (dưới 50 điểm cơ bản).
  • Timeline thực hiện: Lộ trình trung và dài hạn 2014 - 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các tổ chức trung gian tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về các thủ thuật lách trần tín dụng 15%, phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện các quy định quản lý an toàn vĩ mô và lành mạnh hóa thị trường vốn.
  • Ban quản trị và khối quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại: Giúp nhận diện rủi ro tiềm ẩn từ việc đầu tư trái phiếu doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm, tình trạng mất cân đối kỳ hạn và nguy cơ nợ xấu, từ đó thiết lập hạn mức đầu tư an toàn và quy trình thẩm định tín dụng nghiêm ngặt.
  • Giám đốc tài chính (CFO) và chuyên viên tài chính doanh nghiệp: Giúp doanh nghiệp hiểu rõ mặt hạn chế của các khoản nợ vay trá hình ngắn hạn (1 - 3 năm), từ đó xây dựng chiến lược huy động vốn dài hạn bền vững thông qua phát hành trái phiếu ra công chúng có bảo lãnh và xếp hạng tín nhiệm.
  • Giảng viên, chuyên gia nghiên cứu và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng, Chính sách công: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về việc ứng dụng lý thuyết ủy quyền - thừa hành vào phân tích sự méo mó của hệ thống tài chính tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tín dụng trá hình thông qua trái phiếu doanh nghiệp là gì? Tín dụng trá hình là hoạt động ngân hàng mua trực tiếp hoặc bảo lãnh các đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp rồi nắm giữ đến ngày đáo hạn. Về hình thức, đây là khoản đầu tư chứng khoán nợ, nhưng về bản chất kinh tế, đây là một khoản cấp tín dụng nhằm lách quy định về trần cho vay 15% vốn tự có và nới lỏng yêu cầu tài sản bảo đảm.

Tại sao mối quan hệ sở hữu chéo lại thúc đẩy tín dụng trá hình bùng nổ? Theo lý thuyết ủy quyền - thừa hành, các cổ đông lớn nắm quyền chi phối đồng thời tại ngân hàng và doanh nghiệp thường tạo áp lực để ban điều hành ngân hàng rót vốn cho các dự án sân sau. Ví dụ tiêu biểu là Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa đã mua tới 6.000 tỷ đồng trái phiếu của Công ty Vạn Thịnh Phát, chiếm 154% vốn tự có của ngân hàng.

Tín dụng trá hình đã dẫn đến sự sáp nhập của Habubank như thế nào? Ngân hàng Nhà Hà Nội đã nắm giữ 600 tỷ đồng trái phiếu của Vinashin, tương đương 20,1% vốn tự có. Khi con nợ mất khả năng thanh toán, khoản trái phiếu này trở thành nợ xấu nặng nề, buộc ngân hàng phải vay ròng liên ngân hàng 7.120 tỷ đồng (bằng 37,8% tiền gửi khách hàng) để duy trì thanh khoản và dẫn đến việc phải sáp nhập vào SHB năm 2012.

Thông tư 28/2011/TT-NHNN đã giải quyết triệt để được vấn đề tín dụng trá hình chưa? Thông tư 28/2011/TT-NHNN là giải pháp can thiệp kịp thời khi buộc các ngân hàng phải tính dư nợ trái phiếu doanh nghiệp vào tổng dư nợ cấp tín dụng. Tuy nhiên, thông tư này chưa thể triệt tiêu hoàn toàn tín dụng trá hình do chưa xóa bỏ được triệt để sở hữu chéo, thiếu tổ chức xếp hạng tín nhiệm và chưa có chế tài cấm gia hạn nợ trái phiếu.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam cần điều kiện gì để phát triển minh bạch? Thị trường cần giảm tỷ lệ nắm giữ của khối ngân hàng thương mại từ mức 90% xuống, mở rộng cơ sở nhà đầu tư sang các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí như kinh nghiệm của Malaysia (trái phiếu đạt 42,8% GDP năm 2012), đồng thời thành lập các tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín để minh bạch hóa rủi ro và tăng cường thanh khoản thị trường thứ cấp.

Kết luận

  • Nghiên cứu chứng minh phần lớn trái phiếu doanh nghiệp phát hành tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011 thực chất là tín dụng trá hình, với tỷ lệ ngân hàng nắm giữ đến ngày đáo hạn lên tới 72% - 92%.
  • Tín dụng trá hình làm vô hiệu hóa các quy định an toàn của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là giới hạn cấp tín dụng 15% vốn tự có đối với một khách hàng theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12.
  • Sự cấu kết sở hữu chéo và đầu tư trái phiếu không tài sản bảo đảm là nguyên nhân chính gây tích tụ nợ xấu, dẫn đến khủng hoảng thanh khoản và buộc phải sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng như vụ Habubank (2012) và SCB - TNB - FCB (2011).
  • Việc hơn 90% lượng trái phiếu phát hành bị các ngân hàng thương mại gom giữ đã làm tê liệt thị trường thứ cấp, duy trì chênh lệch giá mua bán ở mức cao và cản trở sự phát triển của kênh dẫn vốn trung - dài hạn.
  • Giải pháp căn cơ đòi hỏi phải xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo, giám sát nghiêm ngặt Thông tư 28/2011/TT-NHNN, cấm gia hạn nợ trái phiếu doanh nghiệp và nhanh chóng thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm độc lập.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã phơi bày bản chất kinh tế thực sự của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011, cung cấp khung luận cứ khoa học vững chắc cho tiến trình tái cơ cấu hệ thống tài chính. Để tiếp tục hoàn thiện khung chính sách tiền tệ và thị trường vốn cho giai đoạn tiếp theo, các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu cần tiếp tục theo dõi sát sao việc lành mạnh hóa thị trường trái phiếu theo các chuẩn mực quốc tế. Hãy tải và nghiên cứu toàn văn luận văn để nắm bắt bức tranh toàn diện và sâu sắc về cấu trúc tài chính Việt Nam!