Phần mở đầu Trong phần này, trình bày các nội dung cơ bản về sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và kết cấu nội dung đề tài. Chƣơng 1: Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng cho DNNVV Chƣơng này sẽ khái quát lại định nghĩa về DNNVV, đặc điểm, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế, khả năng tiếp cận vốn vay của các DNNVV. Chƣơng 1 cũng phân tích tín dụng ngân hàng cho DNNVV và các yếu tố tác động đến hoạt động tín dụng DNNVV. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – chi nhánh Bình Dƣơng 5 n Trong chƣơng này, đề tài sẽ giới thiệu về Vietcombank Bình Dƣơng và tổng quan về các DNNVV tại tỉnh.
Sau đó phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến hoạt động tín dụng DNNVV tại Vietcombank Bình Dƣơng, trên cơ sở các lập luận đã đề cập đến ở chƣơng 1, để đánh giá mức độ tác động và kết quả hoạt động tín dụng DNNVV tại Vietcombank Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp phát hoạt động tín dụng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bình Dƣơng Với việc phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến hoạt động tín dụng DNNVV ở chƣơng 2, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng DNNVV giúp cho ngân hàng kinh doanh hiệu quả hơn. 6 n CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là những cơ sở sản xuất - kinh doanh có tƣ cách pháp nhân, kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu đƣợc trong từng thời kỳ. Định nghĩa DNNVV mang tính tƣơng đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định của từng nƣớc, từng thời kỳ và từng ngành nghề cụ thể,.
Trong từng thời kỳ, các tiêu thức và tiêu chuẩn giới hạn lại đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với đƣờng lối, chính sách, chiến lƣợc và khả năng hỗ trợ của mỗi quốc gia. Những tiêu thức phân loại DNNVV đƣợc dùng để làm căn cứ thiết lập những chính sách hỗ trợ DNNVV của Chính Phủ. Năm 2017, Quốc hội ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV đã phân định lại DNNVV tại Điều 4 nhƣ sau: 1. DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân của năm trƣớc liền kề không quá 200 ngƣời và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn của năm trƣớc liền kề không quá 100 tỷ đồng; b) Doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa đƣợc xác định trong từng lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thƣơng mại và dịch vụ. Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau: 7 n Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại quy mô DNNVV Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao nguồn động nguồn động nguồn động Khu vực vốn vốn vốn I. Nông, không không không không quá không không quá lâm nghiệp, quá 3 tỷ quá 10 quá 20 tỷ 100 ngƣời quá 100 200 ngƣời thủy sản, đồng ngƣời đồng tỷ đồng công nghiệp và xây dựng II. Thƣơng không không không không quá không không quá mại và dịch quá 3 tỷ quá 10 quá 50 tỷ 50 ngƣời quá 100 200 ngƣời vụ đồng ngƣời đồng tỷ đồng Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 Mặt khác, do đặc thù trong việc sử dụng tiền tệ để kinh doanh và nhằm giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng thƣơng mại thƣờng chỉ phân loại doanh nghiệp dựa vào tiêu chí doanh thu và vốn chủ sở hữu (VCSH) là chủ yếu: DNNVV là doanh nghiệp có doanh thu dƣới 100 tỷ/năm hoặc có VCHS dƣới 30 tỷ/năm, cụ thể là: + Doanh nghiệp siêu nhỏ: doanh thu dƣới 10 tỷ đồng hoặc VCSH dƣới 5 tỷ đồng.
+ Doanh nghiệp nhỏ: doanh thu trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc VCSH trên 5 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng. + Doanh nghiệp vừa: doanh thu trên 50 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc VCSH trên 15 tỷ đồng đến 30 tỷ đồng. Đặc điểm của DNNVV Các DNNVV có những đặc điểm nổi bật sau: 8 n - Về cơ cấu sở hữu và quản lý: Hầu hết các DNVVN đƣợc thành lập và sở hữu bởi những ngƣời khởi nghiệp. Chủ sở hữu cũng là ngƣời khởi xƣớng chiến lƣợc của công ty và là ngƣời điều hành công ty.
Việc ra quyết định trong công ty chỉ giới hạn ở một số nhân sự chủ chốt. Điều này trái ngƣợc với các công ty lớn có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp. Chủ sở hữu DNNVV cũng là nhà quản lý và là những ngƣời đóng góp nhiều nhất, nếu không phải tất cả, vốn cổ phần. Do các DNVVN kém phân cấp nên chủ sở hữu cũng là ngƣời chịu trách nhiệm với các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.
Cấu trúc này một mặt dẫn đến sự gắn kết của nhóm, sự phối hợp và hợp tác cao hơn trong công ty, tuy nhiên mặt khác cũng có nhiều hạn chế nhất định. Chủ sở hữu có hiểu biết đáng kể về tất cả các khía cạnh kinh doanh của họ và tập trung chủ yếu vào các quy trình cốt lõi (Lim và Klobas, 2000). Việc ra quyết định đƣợc tập trung; hầu hết các chủ sở hữu đều có kỹ năng và năng lực trong các sản phẩm và dịch vụ của họ, nhƣng họ thiếu các kỹ năng để quản trị doanh nghiệp hiệu quả. Chủ doanh nghiệp cũng chƣa có tầm nhìn chiến lƣợc cho hoạt động của mình, thƣờng tập trung vào các quy trình hoạt động hơn là các quy trình chiến lƣợc (McAdam và cộng sự, 2007; Deros và cộng sự, 2006; Antony và cộng sự, 2005) Các DNVVN có phân cấp tổ chức kém hơn và ít phức tạp hơn các doanh nghiệp lớn.
Điều này dẫn đến tính linh hoạt cao hơn trong công việc, kênh thông tin trong doanh nghiệp ngắn hơn, cho phép lƣu lƣợng thông tin trực tiếp dễ dàng hơn và trực tiếp hơn, tuy nhiên cũng ít có sự phân chia trách nhiệm rõ ràng hơn. Các nhân viên thƣờng phải đảm đƣơng nhiều công việc. - Quy mô nhỏ: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động, mô hình quản lí đơn giản, chi phí quản lí, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tƣ cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Tuy nhiên với quy mô nhỏ và mức độ đầu tƣ không lớn, linh hoạt rất phù hợp cho phát triển dân doanh, DNNVV là phƣơng thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế.
- Tính linh hoạt: DNNVVcó khả năng đầu tƣ đa dạng và linh hoạt. Điều này đƣợc thể hiện ở việc sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp đƣợc cả công 9 n nghệ truyền thống và hiện đại. Mặt khác, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thƣờng hƣớng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội chủ yếu là đầu tƣ vào các sản phẩm có sức mua cao, nhạy cảm với biến động của thị trƣờng và khả năng phản ứng lại thị trƣờng linh hoạt, chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp thị hiếu ngƣời tiêu dùng. - Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ và lƣợng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng nhƣ bộ máy quản lí của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản.
Không có sự phân tầng các phòng ban mang tính rõ rệt và chuyên môn hoá chƣa cao. Tuy nhiên đây cũng là 1 lợi thế của DNNVV do chi phí cho hoạt động tổ chức, quản lí tƣơng đối thấp, thời gian đƣa ra quyết định và truyền đạt ý tƣởng từ lãnh đạo tới công nhân viên nhanh chóng và hiệu quả, không phải qua nhiều khâu trung gian. - Về nguồn vốn: Các DNNVV thƣờng sử dụng vốn chủ sở hữu, ít sử dụng các nguồn vốn chính thức bên ngoài để tài trợ cho hoạt động của mình (Beck và cộng sự , 2004). Theo kết quả cuộc khảo sát doanh nghiệp (Enterprise Survey) của World Bank đƣợc thực hiện từ năm 2005 đến nay trên 139 quốc gia với 131.000 doanh nghiệp khảo sát, các công ty nhỏ gặp nhiều trở ngại trong tăng trƣởng, đặc biệt về khả năng tiếp cận vốn, hơn các doanh nghiệp lớn ở cả các nƣớc phát triển và đang phát triển.
Nghiên cứu của Beck và cộng sự (2005b) còn cho thấy các DNNVV không chỉ đối mặt với trở ngại về tài chính cao hơn mà trở ngại này còn ảnh hƣởng tiêu cực đối với hoạt động và tăng trƣởng của họ nhiều hơn so với các doanh nghiệp lớn. Một vấn đề của các DNNVV là sự thiếu minh bạch về thông tin. Các báo cáo tài chính của các DNNVV thƣờng không đồng nhất, không đƣợc kiểm toán và độ tin cậy không cao. Các DNNVV cũng không có nhiều kinh nghiệm trong việc lập báo cáo kinh doanh, quản trị dòng tiền.
Điều này khiến việc thu thập thông tin về các DNNVV rất khó khăn và tốn kém. Với quy mô nhỏ, các DNNVV cũng có thể không có đủ tài sản thế chấp cho các khoản vay. Vì lẽ đó, các tổ chức tài chính có thể không muốn cho các DNNVV vay do giá trị các khoản vay thƣờng nhỏ do quy mô, hiệu quả tín dụng thấp trong khi rủi ro và chi phí hoạt động cao. Ở các nƣớc kém phát triển, vấn đề thông tin bất cân xứng này càng trầm trọng, các tổ chức tài chính cũng kém phát triển hơn trong năng lực quản lý các khoản vay DNNVV, và khả năng tiếp cận vốn của các DNNVV càng kém hơn.