Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trực quan hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 3-4 tuổi

Đồ dùng dạy học trực quan là công cụ hiệu quả giúp trẻ 3-4 tuổi hình thành khái niệm số lượng. Phương pháp giáo dục Montessori sử dụng vật liệu thực tế để phát

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đồ dùng dạy học trực quan và biểu tượng số lượng cho trẻ 3 4 tuổi

Đồ dùng dạy học trực quan là phương tiện không thể thiếu trong giáo dục mầm non. Chúng giúp trẻ tiếp cận kiến thức qua hình ảnh, vật mẫu cụ thể. Với trẻ 3-4 tuổi, tư duy còn mang tính trực giác. Trẻ học tốt nhất qua việc quan sát và thao tác trực tiếp với đồ vật. Biểu tượng số lượng là khả năng nhận biết, liên kết số với lượng. Quá trình hình thành biểu tượng số lượng đòi hỏi trẻ phải trải qua nhiều giai đoạn. Từ việc cảm nhận trực quan đến đếm, so sánh và gộp nhóm. Hoạt động làm quen với toán là môi trường chính để phát triển kỹ năng này. Đồ dùng trực quan đóng vai trò cầu nối giữa khái niệm trừu tượng và thực tế. Nghiên cứu của Phan Nhựt Xuân Linh (2019) đã khảo sát thực trạng sử dụng đồ dùng này tại các trường mầm non quận Bình Tân. Kết quả cho thấy nhiều vấn đề cần cải thiện trong cách chuẩn bị và tổ chức hoạt động.

1.1. Khái niệm đồ dùng dạy học trực quan trong giáo dục mầm non

Đồ dùng dạy học trực quan là các phương tiện trực quan được sử dụng trong quá trình giảng dạy. Bao gồm vật mẫu, hình ảnh, tranh vẽ, đồ chơi giáo dục. Phương pháp dạy học trực quan bắt đầu từ việc hướng dẫn trẻ hành động cảm tính với đối tượng học (Phan Trọng Ngọ, 2007). Phương pháp này phù hợp đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non. Hai phương pháp chính là trình bày trực quan và quan sát. Trình bày trực quan sử dụng đồ dùng trước, trong hoặc sau khi nắm kiến thức mới. Quan sát giúp trẻ hình thành kỹ năng phân tích dấu hiệu cơ bản của sự vật.

1.2. Biểu tượng số lượng và quá trình hình thành ở trẻ 3 4 tuổi

Biểu tượng số lượng là khả năng liên kết giữa con số và lượng vật thể cụ thể. Trẻ 3-4 tuổi bắt đầu nhận biết số lượng qua thao tác trực quan. Quá trình hình thành bao gồm nhiều bước: nhận biết nhóm vật, đếm vẹt, đếm có ý thức. Trẻ cần biết sử dụng ngón tay để biểu thị số lượng. Khả năng đếm trên đối tượng giống nhau trong phạm vi 4-5 là mục tiêu cơ bản. So sánh số lượng hai nhóm bằng các từ nhiều hơn, ít hơn, bằng nhau. Gộp và tách nhóm đối tượng trong phạm vi 5 là kỹ năng nâng cao hơn.

II. Phân tích thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trực quan trong trường mầm non

Nghiên cứu khảo sát tại sáu trường mầm non quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu bao gồm dự giờ, quan sát và phỏng vấn giáo viên. Tiêu chí đánh giá tập trung vào cách chuẩn bị đồ dùng, hình thức tổ chức hoạt động. Kết quả cho thấy giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan ở mức độ khác nhau. Một số trường có đồ dùng phong phú, đa dạng. Số khác còn thiếu thốn, không đáp ứng yêu cầu bài dạy. Cách giáo viên hướng dẫn trẻ thao tác với đồ dùng cũng chưa đồng đều. Nhiều buổi học, trẻ chưa được thực hành đủ với vật mẫu trực quan. Giáo viên thường thiên về trình bày, ít cho trẻ hành động. Việc đánh giá mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ còn hạn chế. Cần có giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học trực quan.

2.1. Điểm mạnh trong việc sử dụng đồ dùng trực quan tại các trường khảo sát

Nhiều giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của đồ dùng trực quan. Các trường có trang bị tranh ảnh, vật mẫu phục vụ hoạt động làm quen với toán. Giáo viên biết kết hợp lời nói với hình ảnh minh họa. Hoạt động góc và ngoài trời được tổ chức bổ sung cho giờ học chính. Trẻ thể hiện sự quan tâm đến số lượng qua việc đếm và hỏi về số lượng. Một số trẻ biết sử dụng ngón tay để biểu thị số lượng. Ban giám hiệu có sự quan tâm đến việc chuẩn bị đồ dùng dạy học.

2.2. Hạn chế và vấn đề tồn tại trong thực tế giảng dạy

Đồ dùng trực quan tại nhiều trường còn đơn điệu, thiếu sáng tạo. Giáo viên chưa khai thác hết công năng của đồ dùng trong bài dạy. Thời gian cho trẻ thao tác trực tiếp với vật mẫu chưa đủ. Hình thức đánh giá trẻ sau hoạt động còn mang tính cảm tính. Giáo viên ít trao đổi kinh nghiệm về cách sử dụng đồ dùng hiệu quả. Một số bài dạy, đồ dùng không phù hợp với nội dung và độ tuổi. Việc chuẩn bị đồ dùng tốn thời gian, gây áp lực cho giáo viên. Nguồn kinh phí đầu tư đồ dùng còn hạn chế tại nhiều cơ sở.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học trực quan cho trẻ 3 4 tuổi

Để cải thiện thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, giáo viên cần được bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp dạy học trực quan. Nội dung bồi dưỡng tập trung vào cách thiết kế và sử dụng đồ dùng phù hợp lứa tuổi. Thứ hai, các trường cần đầu tư đa dạng hóa đồ dùng dạy học. Tận dụng nguyên vật liệu sẵn có để tạo đồ dùng tự làm sáng tạo. Thứ ba, xây dựng hệ thống đánh giá chuẩn về mức độ hình thành biểu tượng số lượng. Tiêu chí đánh giá cần cụ thể, dễ thực hiện trong thực tế lớp học. Thứ tư, tăng cường thời gian cho trẻ thao tác trực tiếp với đồ vật. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, khuyến khích trẻ khám phá. Cuối cùng, tạo diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm giữa giáo viên các trường. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chuyên gia giáo dục là then chốt.

3.1. Bồi dưỡng năng lực sử dụng đồ dùng trực quan cho giáo viên mầm non

Chương trình bồi dưỡng cần thiết kế theo hướng thực hành. Giáo viên được hướng dẫn cách làm đồ dùng từ nguyên vật liệu tái chế. Tập huấn về phương pháp trình bày trực quan và quan sát hiệu quả. Giáo viên học cách kết hợp đồ dùng với lời nói phù hợp từng hoạt động. Thực hành tổ chức bài dạy mẫu có sử dụng đồ dùng trực quan đa dạng. Hướng dẫn cách quan sát, nhận xét mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ. Đánh giá kết quả bồi dưỡng qua sản phẩm và tiết dạy thực tế.

3.2. Xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ hình thành biểu tượng số lượng ở trẻ

Tiêu chí đánh giá cần dựa trên đặc điểm phát triển của trẻ 3-4 tuổi. Trẻ quan tâm đến số lượng, biết đếm vẹt và sử dụng ngón tay biểu thị lượng. Đếm trên đối tượng giống nhau trong phạm vi 5 là mức cơ bản. So sánh số lượng hai nhóm trong phạm vi 5 bằng nhiều cách khác nhau. Biết nói các từ bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn khi so sánh. Gộp và đếm hai nhóm đối tượng cùng loại có tổng trong phạm vi 5. Tách một nhóm đối tượng thành hai nhóm nhỏ hơn. Việc đánh giá cần tiến hành thường xuyên qua quan sát trực tiếp.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu về đồ dùng dạy học trực quan

Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trực quan tại các trường mầm non quận Bình Tân. Kết quả cho thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan còn nhiều hạn chế về chất lượng và phương pháp. Giáo viên cần được bồi dưỡng thêm kỹ năng thiết kế và sử dụng đồ dùng hiệu quả. Đồ dùng trực quan phải phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ 3-4 tuổi. Mục tiêu cuối cùng là giúp trẻ hình thành biểu tượng số lượng một cách tự nhiên. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi và dễ áp dụng trong thực tế. Chương trình bồi dưỡng giáo viên là giải pháp trọng tâm cần ưu tiên. Hệ thống tiêu chí đánh giá giúp giáo viên theo dõi tiến bộ của trẻ sát thực hơn. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong giáo dục toán mầm non. Ứng dụng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn nghiên cứu

Luận văn cung cấp cơ sở lý luận về vai trò của đồ dùng trực quan trong hình thành biểu tượng số lượng. Hệ thống hóa các khái niệm về phương pháp dạy học trực quan cho trẻ mầm non. Nghiên cứu thực trạng giúp phát hiện khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế giảng dạy. Kết quả là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên và nhà quản lý giáo dục. Góp phần vào kho tàng nghiên cứu về giáo dục mầm non tại Việt Nam. Mở hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về phương pháp dạy toán cho trẻ nhỏ.

4.2. Khuyến nghị cho nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục

Các trường mầm non cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên định kỳ. Đầu tư kinh phí mua sắm và làm đồ dùng dạy học đa dạng. Tổ chức chuyên đề dạy học trực quan để giáo viên trao đổi kinh nghiệm. Phòng Giáo dục và Đào tạo cần ban hành hướng dẫn cụ thể về sử dụng đồ dùng trực quan. Xây dựng ngân hàng đồ dùng dạy học trực quan dùng chung cho các trường. Khuyến khích giáo viên sáng tạo đồ dùng từ nguyên vật liệu địa phương. Đưa tiêu chí sử dụng đồ dùng trực quan vào đánh giá giáo viên hàng năm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trực quan nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 34 tuổi trong hoạt động làm quen với toán

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRỰC QUAN NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 3-4 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong giáo dục, vấn đề trực quan đã được nghiên cứu từ lâu và được xem là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản nhất.Cômenxki là nhà giáo dục người Tiệp Khắc là người đã đặt nền móng cho việc xây dựng nền giáo dục tiên tiến, hiện đại của chủ nghĩa tư bản cho rằng: Việc sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học mầm non là “phương pháp vàng”. Theo ông: “Mọi chuyện đối với trẻ đều nên được khảo sát bằng tất cả các giác quan: nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ mó.

Một đối tượng nào đó mà cùng lúc có thể tri giác bằng một số giác quan, thì nó cần phải được nhận thức bằng những giác quan đó cùng lúc. Theo ông, nhận thức luôn được bắt đầu từ cảm giác. Do đó, việc học tập sẽ có kết quả tốt hơn nếu nó được bắt đầu bằng việc xem xét các đối tượng, quan sát các hiện tượng, các quá trình, hành động với các đối tượng ở xung quanh” (Lê Thị Thanh Nga, 2006). Cũng xuất phát từ chỗ xem quan sát là cơ sở của mọi tri thức, G.Pestalossi là một nhà giáo dục học Thụy Sĩ cho rằng: “Số cơ quan cảm giác tham gia vào quá trình nhận thức càng lớn thì kiến thức của chúng ta càng chính xác hơn”.

Tuy nhiên, khác với J.Cômenxki, theo ông trực quan được xem là điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõ ràng thành những biểu tượng rõ ràng, chính xác. Như vậy, tri giác cảm tính được gắn liền với quá trình tư duy (Phan Minh Tiến, 1998).Usinxki cho rằng, trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người. Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập ở học sinh, kích thích tính tích cực của học sinh; là phương tiện tốt nhất giúp giáo viên gần gũi với học sinh và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh (Phan Minh Tiến, 1998). Phương pháp giáo dục Montessori của Bác sĩ và nhà giáo dục người Ý Maria Montessori với cơ sở lý luận về việc sử dụng giáo cụ giúp trẻ làm quen với toán cho 8 rằng: Việc hướng dẫn cho trẻ làm quen với toán học ngay từ tuổi mầm non là cơ hội tốt để sớm hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, so sánh.

tăng cường vốn ngôn ngữ và phát triển tư duy. Quá trình hình thành các biểu tượng ban đầu về toán giữ một vai trò quan trọng, góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ ngay từ tuổi ấu thơ. Montessori cho rằng “tri thức toán học” là loại tri thức cần được nuôi dưỡng bằng sự chính xác tuyệt đối. Trẻ quan sát, trải nghiệm thế giới bằng cảm quan.

Từ những trải nghiệm này, trẻ sẽ trừu tượng hóa các khái niệm và bản chất của mọi sự vật ở môi trường xung quanh (Vũ Thị Hồng Hạnh & Vũ Thị Thanh Tuyền, 2017). Một số tác giả khác như Môngtenhơ, V.Leonchep, … cũng đã có những nghiên cứu về dạy học trực quan. Ngày nay, nhiều tác giả đã dành một vị trí đáng kể trong việc nghiên cứu vấn đề sử dụng các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học, trong đó tác giả X.Sapôvalencô: “Chất lượng đồ dùng dạy học phải gắn chặt với chất lượng sử dụng nó của thầy giáo để nó có thể đạt hiệu quả giảng dạy và giáo dục cao” (Trần Doãn Quới, 1978).Piaget với “Thuyết phát sinh nhận thức” cho rằng: “Sự phát sinh, phát triển nhận thức – trí tuệ của trẻ em được chi phối bởi: Vai trò của sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động với đối tượng. Kinh nghiệm vật lý là kinh nghiệm trẻ thu được nhờ hoạt động với đồ vật, kinh nghiệm logic – toán trẻ thu được nhờ thao tác trên đồ vật trẻ phát hiện ra tính chất của đồ vậy ấy” (Đinh Thị Tứ & Phan Trọng Ngọ, 2007).

Liên quan đến các vấn đề về quá trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ phải kể đến một số nghiên cứu như: Các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Macxit khẳng định rằng: Mức độ nắm vững các biểu tượng nói chung và các biểu tượng toán học của trẻ còn phụ thuộc khá lớn vào phương pháp hướng dẫn của giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động của trẻ, đặc biệt là tổ chức các “tiết học” ở trường mẫu giáo (Đinh Thị Nhung, 2001).Ganpenrin, Davudov và cộng sự với công trình nghiên cứu về quá trình hình thành biểu tượng số ở trẻ mầm non (Bùi Thị Lan Duyên, 2014). 9 Qua các quan điểm cho thấy, việc trẻ có cơ hội được trải nghiệm thế giới xung quanh thông qua phương pháp trực quan, trẻ được trực tiếp cảm nhận bằng các giác quan của mình lên các đối tượng, đồ vật cụ thể sẽ có tác động mạnh mẽ trong việc phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, một số quan niệm liên quan đến các phương pháp dạy học trực quan trong việc dạy trẻ mầm non làm quen với toán học đã xuất hiện: Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1978) trong cuốn “Giáo dục học” đã nêu lên ý nghĩa và việc sử dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, trong đó việc sử dụng đồ dùng trực quan đóng vai trò là một biện pháp then chốt. Chương trình GDMN của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện hành trong lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ MN đã đề ra các mục tiêu cụ thể.

Từ đó, cuốn Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình GDMN dành cho mẫu giáo (3-4 tuổi) ghi rõ: “Khả năng nhận thức của trẻ được phát triển qua việc tiếp xúc, tìm hiểu các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu, qua các hoạt động tìm hiểu cây, con, các hiện tượng tự nhiên, xã hội và qua làm quen với toán” (Lê Thu Hương và các cộng sự, 2017). Tác giả Nguyễn Kỳ (1995) trong “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm” cho rằng: “Các dụng cụ trực quan, các phương tiện nghe nhìn hiện đại nhất sử dụng theo PP cổ truyền có thể vẫn duy trì người học trong thế thụ động ngồi nhìn thầy trình diễn, thụ đồng ngồi xem các chương trình nghe – nhìn”. Tác giả Thái Duy Tuyên (2008) trong “PP dạy học truyền thống và đổi mới” nhận định: “Để học sinh nhận thức được các sự vật hiện tượng một cách chính xác, sâu sắc và có độ nhớ lâu bền, trong quá trình dạy học cần huy động càng nhiều cơ quan cảm giác của học sinh vào quá trình nhận thức càng tốt”. Tác giả Phan Trọng Ngọ (2007) trong “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” ghi rõ: “Phương pháp dạy học trực quan, theo đúng nghĩa của nó không phải là giáo viên giới thiệu, trình bày các phương tiện trực quan, nhằm cung cấp cho người học nhiều hình ảnh cảm tính về sự vật, mà phải giúp người học hành 10 động tốt nhất với sự vật.

Dạy học trực quan - tức là dạy học phải được bắt đầu từ việc hướng dẫn người học hành động cảm tính với đối tượng học”. Theo Nguyễn Thị Hòa (2013) trong nghiên cứu “Phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi học tập”: “Biện pháp trực quan chính là cách thức cụ thể cho trẻ được quan sát, làm quen với các hiện tượng, sự việc và những đồ vật thật như tranh ảnh, phim, mô hình, sơ đồ miêu tả đồ vật này hay đồ vật khác, tính trực quan ở đây được thể hiện không chỉ giúp trẻ làm quen với thế giới xung quanh bằng mắt, bằng tai mà còn bằng cảm giác của đôi tay”. Theo tác giả Phan Trọng Ngọ (2000) trong cuốn “Vấn đề trực quan trong dạy học”, trong đó theo quan niệm về nhận thức của Heraclit: “Quá trình nhận thức bắt đầu từ cảm giác, không có cảm giác thì không có bất kỳ nhận thức nào”. Tác giả Lê Thị Thanh Nga (2006) trong giáo trình “Phương pháp hướng dẫn trẻ mầm non làm quen với biểu tượng toán học ban đầu” cho rằng: “Trong phương pháp dạy trẻ làm quen với biểu tượng toán thì nguyên tắc trực quan có liên hệ khá chặt chẽ với sự tích cực của trẻ”.

Trong giáo trình “Toán học và phương pháp dạy trẻ làm quen với toán” cho rằng: “Nguyên tắc học kết hợp với hành một cách khoa học là phải chọn đồ dùng dạy học và phương pháp dạy sao cho phù hợp với mục đích, nhiệm vụ dạy và học, đồng thời phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi của trẻ”. “Nhiệm vụ cơ bản của giáo viên trong việc hình thành các biểu tượng toán học ban đầu cho trẻ: Đối với trẻ mẫu giáo bé, chủ yếu dựa vào các vật cụ thể để tư duy và hình thành các kiến thức, vì vậy ta phải chú ý phát triển tư duy trực quan cho trẻ (Nguyễn Duy Thuận, Lương Thị Hùng & Đặng Ngọc Châm, 1988). Tương tự, trong giáo trình “Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với toán” cho rằng “Đồ dùng dạy học trực quan nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ thể hiện ở nguyên tắc đảm bảo tính trực quan” (Đỗ Thị Minh Liên, 2008). Ngoài ra, vấn đề này còn được một số tác giả khác nghiên cứu như Võ Chấp, Vũ Dũng, Phạm Minh Hạc, Đinh Thị Nhung, Tường Thị Phùng, Ngô Thúc Lanh, Đoàn Quỳnh, Nguyễn Đình Trí, Phạm Thị Mai Chi… và nhiều tài liệu khác đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Internet như: 11 Công trình nghiên cứu “Sử dụng đồ dùng, đồ chơi trong tổ chức hoạt động giáo dục ở trường thực nghiệm Hoa Hồng” nhấn mạnh: “Đồ chơi, học liệu là phương tiện dạy học rất quan trọng trong tiến hành các hoạt động ở trường mầm non.

Để hoạt động hàng ngày của trẻ diễn ra có hiệu quả, đạt được mục đích giáo dục đưa ra cần rất nhiều đồ dùng đồ chơi, những công cụ này gắn liền với các hoạt động hàng ngày của trẻ. Vì vậy, cần linh hoạt trong việc sử dụng và thường xuyên đổi mới để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường” (Đào Thị My, 2017). Trong bài báo của Trần Thị Mỹ Linh (2011) đăng trên tạp chí giáo dục đã đề cập đến “Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ