CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỌNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Khái niệm cơ bản và các yếu tố tạo nên động lực cho người lao động 1. Khái lệm động lực và tạo động lực 1.1 Khái niệm động lực Động lực có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân và tổ chức, chính động lực làm việc của người lao động là yếu tố thúc đây từ bên trong, tạo ra động, cơ khuyến khi h, kích thích người lao động làm việc, thúc đây sự sáng tạo, sự khát khao. làm việc để tăng năng suất lao động, qua đó đạt được các mục tiêu của cả nhân và tổ chức. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ng lực làm việc, trong đó phải kế đến: ~_ Theo Vroom (1964): Động lực là trang thái hình thành khi người lao động kỳ.
vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc ~_ Theo Mitchell (1982): Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn đề gắn kết các hành vi của mình. ~_ Theo Robbins (1993): Động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tô chức, với điều kiện là tô chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân. ~_ Theo Mullins (2007): Động lực có thể được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt được mục tiêu để thực hiện một số nhu. cầu hoặc mong đợi.
Theo tác giả Động lực chính là sự khao khát và tự nguyện được thể iện bằng hành động của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu. hay kết quả cụ thể nào đó. Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị tri khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác.
Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau vì vay nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau đến mỗi người lao động. 6 Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tô chức. nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tô chức với môi trường làm việc cụ thể. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hãng say khi họ không cảm thấy có một ép hay áp lực nào trong công việc.Tạo động lực cho người lao động ~ Tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động, ví dụ như: thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao. động vừa thoả mãn được mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh than. Các biện pháp tạo động lực cho người lao động thường hướng đến thỏa mãn các mong muốn của người lao động, được người lao động đặt ra một cách có ý thức và được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ.
Nó được thể hiện ở Mục tiêu thư nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động. Vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức độ nảo đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Mục tiêu về thoả mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thê hiện mình thông qua tập thể.
Khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội Qua đó, để đạt được hiệu quả sản xuất cao thì các nhà quản lý phải xác định được mục tiêu của người lao động, hay nói cách khác là phải xác định được nhu cầu của người lao động ở mức độ nảo, từ đó có thể đưa ra những phương án để thoả man những nhu cầu đó một cách hợp lý. Muốn vậy, phải phân tích được những yếu tố nào. có thể tạo nên động lực trong lao động. Những yếu tố tạo nên động lực cho người lao động 1.
Yếu tố bên trong (yếu tổ thuộc về cá nhân người lao động) Hệ thống nhu cầu: Cá nhân ai cũng có những nhu cầu được sống tốt dep hon và hệ thống nhu cầu này khác nhau ở mỗi cá nhân khác nhau. Đây chính là cơ sở để tạo động lực cho người lao động bởi lẽ để thoả mãn được những nhu cầu đó thì con người phải hăng hái làm việc. -_ Các giá trị cá nhân: Mỗi cá nhân đều có một giá trị quan trọng nhất, từ đó có phương hướng để đạt được điều đó. Gía trị cá nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Văn hoá tổ chức, môi trường xã hội.Nó quyết định thái độ, hành vi của cá nhân đó.
~_ Quan điểm, thái độ của từng con người trước một sự kiện nào đó: Nó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng công việc. Quyết định hành vi thái độ tích cực hay tiêu cực của mỗi cá nhân. Khi có quan điểm, thái độ đúng đắn thì hành vi sẽ theo chiều hướng tích cực và ngược lại -_ Đặc điểm, cá tính cá nhân: ở mỗi cá nhân khác nhau thì đặc điểm, cá tính sẽ khác nhau, do vậy việc tạo động lực ở mỗi cä nhân là khác nhau, biện pháp tạo động lực đưa ra phải phủ hợp với đa số cá nhân trong tập thể. Nhà quản lý cần phải chú ý đến điều này.
- Khả năng, năng lực cá nhân: Khả năng, năng lực của từng người là khác nhau, nó phụ thuộc vảo tố chất của cá nhân và môi trường xã hội. Dựa vào khả nang, năng lực của từng cá nhân đề đưa ra phương pháp kích thích họ phát huy tối đa khả. năng, sở trường của mình. Động lực của người lao động không chỉ chịu ảnh hưởng của các yết tố bên trong, mả còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài.
Yếu tố bên ngoài (yếu tổ thuộc về môi trường và quản lý) -Công việc: Đặc thủ của từng công việc sẽ quyết định hành động của con người. Do vậy, người quản lý cần biết điều này để tổ chức tạo động lực cho người lao động. Mỗi công việc có một tính chất riêng, công việc khác nhau thì mức độ phức tạp khác nhau, đòi hỏi người lao động phải đáp ứng. ~ Mỗi trường, điều kiện làm việc: Môi trường, kiện làm việc bao gồm: Các phương tiện, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, trang thiết bị bảo hộ lao động, các điều kiện về khí hậu, điều kiện về thời gian lao động, quy định, quy chế, nội quy lao động,.
ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý lao động, sức khoẻ và năng suất lao động. - Sắp xếp, bố trí công việc: Là việc bố trí người lao động vào làm việc tại một vi trí công việc nào đó. Người lao động có hứng thú với công việc hay không, có đạt được hiệu quả cao trong công việc hay không phụ thuộc vào cách sắp xếp, bồ trí công. việc của người quản lý.
- Chế độ đãi ngộ cho người lao động: Là tất cả các khoản lợi ích mà người lao động có thể nhận được để bù đắp vào sức lao động mà họ đã hao phí, nói cách khác đây là cách thức bù đắp vào lao động đã bỏ ra hay là mọi loại phần thưởng mà người lao động nhận được đề đôi lấy sức lao động của mình, đây là mối quan tâm hàng đầu của người lao động. Nếu nó được thoả mãn một cách tương đối thì sẽ có tác dụng kích thích người lao động. - Đánh giá kết qua làm việc: Là việc đánh giá mức độ hoàn thành công việc mọi mặt. Nếu đánh giá một cách công bằng thì sẽ có ý nghĩa rất lớn đó là: Qua đánh giá sẽ biết được năng lực, thành tích triển vọng của từng người đề từ đó có thể đưa ra quyết định nhân sự có liên quan đến từng người, cải thiện bầu không khí trong tập thể, nâng cao tỉnh thần trách nhiệm.
Kết quả đánh giá ảnh hưởng lớn đến tâm tư tình cảm của người được đánh giá. Do vậy, nếu đánh giá chưa chính xác sẽ dẫn đến nhiều điều không mong muốn. - Đào tạo: Người lao động rất mong muốn được học tập nâng cao trình độ, kỹ năng và hiệu quả làm việc. Chính vì vậy, nếu chính sách đào tạo hợp lý thì sẽ khuyến khích người lao động tích cực sản xuất.
Một số học thuyết về tạo động lực 1. Học thuyết hệ thông nhu cầu của Maslow (1943) Năm 1943, Abraham Maslow đã đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau. Học thuyết của ông được dựa trên những con người khỏe mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tắt cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc. Thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chỉ phối bởi các phiền muộn là chủ yếu.
Cấu trúc Tháp nhu cầu Maslow có 5 tầng, trong đó những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đây đủ.