phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tăng cƣờng liên kết doanh nghiệp để phát triển kinh tế tƣ nhân. 3 Chƣơng 2: Thực tiễn liên kết doanh nghiệp để phát triển kinh tế tƣ nhân tại Việt Nam, những thành tựu đạt đƣợc do liên kết doanh nghiệp mang lại. Những hạn chế cần khắc phục. Chƣơng 3: Đề xuất những giải pháp tăng cƣờng liên kết doanh nghiệp để phát triển kinh tế tƣ nhân.
4 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. Kinh tế tư nhân 1.1 Khái niệm Hiện nay ở các quốc gia có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế tƣ nhân (KTTN). Ở nhiều quốc gia, mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nƣớc đều đƣợc coi thuộc về khu vực kinh tế tƣ nhân. Các công ty tƣ nhân, các hợp tác xã, các công ty hợp danh của một nhóm ngƣời hay các công ty cổ phần xuyên quốc gia cũng đều có đặc điểm chung là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không phải của Nhà nƣớc, các quyết định cho hoạt động của doanh nghiệp luôn do cá nhân, hay đại diện của một nhóm cá nhân đề ra.
Việc nhìn nhận này không chỉ thấy hết tiềm lực KTTN của một quốc gia, mà còn là cơ sở cho phƣơng thức quản lý thống nhất, bình đẳng đối với các loại hình sản xuất kinh doanh trong xã hội. Kinh tế tư nhân có thể được hiểu theo các cách sau: *Cách thứ nhất: Khu vực KTTN gồm các doanh nghiệp tƣ nhân (DNTN) trong nƣớc và các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài dƣới dạng liên doanh hay 100% vốn nƣớc ngoài. Các DNTN trong nƣớc bao hàm cả các hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Việc hiểu khu vực KTTN theo nghĩa rộng nhƣ vậy tạo cơ sở đánh giá hết tiềm năng của KTTN đối với phát triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch phần góp vốn của Nhà nƣớc trong các công ty cổ phần, cũng nhƣ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Hơn nữa, theo cách phân biệt này, việc phân tích đôi khi sẽ gặp khó khăn, bởi không phải tất cả các bộ phận trong khu vực KTTN đều đƣợc Nhà nƣớc đối xử nhƣ nhau. Các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhìn chung luôn nhận đƣợc những điều kiện thuận lợi hơn các DNTN trong nƣớc, cũng nhƣ công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ kinh doanh cá thể. *Cách thứ hai: Khu vực KTTN cũng có thể đƣợc hiểu là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành ba khu vực kinh tế: Khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực 5 kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Một số chuyên gia cho rằng việc đƣa khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ra khỏi khu vực KTTN trong nƣớc sẽ không đánh giá đúng tiềm năng, cũng nhƣ vai trò của khu vực này cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đặc biệt trong điều kiện kinh tế mở, từng bƣớc hội nhập sâu vào nền kinh tế hiện nay. *Cách thứ ba: Khu vực KTTN bao gồm các loại hình DNTN trong nƣớc, nhƣng không bao hàm hộ kinh doanh cá thể. Cách hiểu này bộc lộ nhiều hạn chế. Tuy nhiên, các số liệu thống kê của Việt Nam thƣờng theo cách phân loại này.
Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Việc hiểu KTTN gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế. Trong nền kinh tế của nƣớc ta theo quan niệm lúc đó có sáu thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nƣớc; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tƣ bản tƣ nhân; kinh tế tƣ bản nhà nƣớc và kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong Nghị Quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa IX đã chỉ rõ: “…kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân…”. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân ngƣời lao động và gia đình.
Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tƣ hữu nhỏ về tƣ liệu sản xuất nhƣng có thuê mƣớn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa trên sức lao động và vốn của bản thân, gia đình. Kinh tế tƣ bản tƣ nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tƣ nhân, tƣ bản chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê.2 Bản chất của kinh tế tư nhân Bản chất của kinh tế tƣ nhân đƣợc thể hiện trên ba mặt, đó là: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. 6 Quan hệ sở hữu: Sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất là cơ sở tồn tại của kinh tế tƣ nhân. Tùy theo quy mô sản xuất ngƣời ta phân chia sở hữu tƣ nhân thành: Sở hữu tƣ nhân nhỏ: là sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình sản xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính cá nhân hay hộ gia đình.
Loại hình sở hữu này tồn tại chủ yếu trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, quy mô sản xuất nhỏ. Sở hữu tƣ nhân lớn: ra đời dựa trên cơ sở tích tụ tƣ bản, gắn liền với nền sản xuất lớn, tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao. Quan hệ quản lý: Trên mặt quan hệ quản lý, mỗi hình thức có một trình độ khác nhau. Kinh tế cá thể: dựa trên quy mô nhỏ và hầu nhƣ không sử dụng lao động làm thuê, nên sản xuất diễn ra trong phạm vi từng hộ gia đình, ngƣời chủ gia đình đồng thời là ngƣời quản lý.
Kinh tế tiểu chủ: là hình thức tổ chức sản xuất, có quy mô sản xuất - kinh doanh lớn hơn kinh tế cá thể, tự mình trực tiếp lao động và thuê thêm một số lao động. Kinh tế tƣ bản, tƣ nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tƣ nhân, tƣ bản chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê. Quan hệ phân phối: Thực chất quan hệ này nhằm giải quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất. Đối với kinh tế cá thể, do dựa vào sức lao động của bản thân mình nên sản phẩm làm ra trực tiếp thuộc về các hộ gia đình ngƣời lao động.
Kinh tế tƣ bản tƣ nhân thì quan hệ phân phối đƣợc dựa trên nguyên tắc: chủ sở hữu tƣ liệu sản xuất chiếm phần lớn giá trị thặng dƣ, còn ngƣời lao động đƣợc hƣởng phần sản phẩm tất yếu. Trong nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa, quan hệ phân phối của 7 kinh tế tƣ bản tƣ nhân chủ yếu dựa vào sự đóng góp về vốn, tƣ liệu sản xuất và sức lao động. Sản phẩm thặng dƣ thuộc về nhà tƣ bản. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại khi mà khoa học - công nghệ, trình độ tổ chức, trình độ tay nghề của ngƣời lao động ngày càng quan trọng hơn trong quá trình sản xuất, thì chủ doanh nghiệp không còn là ngƣời sở hữu duy nhất về vốn và tƣ liệu sản xuất.
Do vậy, quan hệ phân phối trở nên phức tạp hơn. Sản phẩm thặng dƣ ngoài đóng góp một phần cho Nhà nƣớc, tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng, thì đƣợc phân phối lại dƣới nhiều hình thức khác nhau và cho các yếu tố đóng góp vào quá trình tạo giá trị thặng dƣ : lao động, tổ chức, quản lý sản xuất - kinh doanh.3 Đặc điểm của kinh tế tư nhân Kinh tế tƣ nhân gắn liền với lợi ích cá nhân là động lực để thúc đẩy xã hội phát triển. Lợi ích cá nhân là động lực trƣớc hết để phát triển xã hội. Kinh tế tƣ nhân là khu vực kinh tế năng động, ngƣời lao động tự chủ tiến hành hoạt động kinh doanh, do đó hoạt động có hiệu quả.
Kinh tế tƣ nhân mà tiêu biểu là doanh nghiệp của tƣ nhân là mô hình tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao. Hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phân công lao động xã hội. Trƣớc khi xuất hiện nền đại công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa còn ở trình độ thấp, đó là nền sản xuất hàng hóa giản đơn, chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp. Hình thức tổ chức sản xuất doanh nghiệp là hình thức tiên tiến, gắn liền với nền đại công nghiệp, phát triển cùng với sự ra đời của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa.
Ở hình thức tổ chức này, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất tăng nhanh. Kinh tế tƣ nhân là nền tảng của kinh tế thị trƣờng. Kinh tế thị trƣờng là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế vận hành có hiệu quả. Kinh tế thị trƣờng là phƣơng tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, hiện đại.
Và cơ chế thị trƣờng hiện đại là môi trƣờng để kinh tế tƣ nhân phát triển. Kinh tế tƣ nhân mà điển hình là mô hình tổ chức doanh nghiệp là sản phẩm tự nhiên của kinh tế thị trƣờng, và tự lớn lên trong kinh tế thị trƣờng. 8 Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta đƣợc khôi phục từ sau công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo, trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, quan hệ sản xuất thống trị xã hội không phải là quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Do vậy, kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta có một số đặc điểm riêng biệt: Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta là kết quả của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, là bộ phận của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển kinh tế tƣ nhân nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nƣớc, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Do đó, về mặt bản chất, nó khác với kinh tế tƣ nhân ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta mang trong mình những yếu tố có tính xã hội chủ nghĩa.