Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI 1.1 Đặc điểm và rủi ro hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng là sự vay mượn lẫn nhau. Trong thực tế của cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy vào những bối cảnh cụ thể. Nếu xét theo mối quan hệ thì tín dụng có thể hiểu là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thể.
Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng, ta có các loại tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng hợp tác, tín dụng quốc tế. Trong những hình thức tín dụng trên thì tín dụng ngân hàng là loại hình tín dụng phổ biến nhất có quy mô, phạm vi hoạt động rộng rãi nhất và có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước.TS Trầm Thị Xuân Hương [5, tr.46] thì “đứng trên góc độ là NHTM, tín dụng là hình thức sử dụng vốn của ngân hàng thông qua việc chuyển giao vốn tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản mà khách hàng cam kết hoàn trả nợ và lãi đúng hạn”. Trước khi đi tìm hiều về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng, cần hiểu rõ bản chất về hoạt động tín dụng thông qua đặc điểm của nó.TS Nguyễn Văn Tiến [1, tr.262] thì tín dụng ngân hàng có 5 đặc điểm sau đây. - Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, e 11 hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay. - Tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay.
Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác thời hạn vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luận chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
- Tín dụng ngân hàng phải dựa trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải trả cả lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải luôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Tín dụng ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tồn tại thông e 12 tin bất đối xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra việc thu hồi tín dụng phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
- Tín dụng ngân hàng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện. Qua trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố cho bên thứ 3 vay vốn, hợp đồng bảo lãnh, khế ước nhận nợ…, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên tắc cơ bản sau đây [5, tr.49]: - Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Đây là nguyên tắc quan trọng để đưa ra quyết định cho vay hay không.
Nguyên tắc này được thể hiện qua các yêu cầu: + Mục đích vốn vay phải tường minh, thể hiện rõ trên văn bản cam kết giữa Ngân hàng và khách hàng + Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp + Khách hàng phải sử dụng vốn đúng mục đích thỏa thuận ban đầu. Nguyên tắc này đảm bảo cho ngân hàng chỉ cho vay đối với các nhu cầu hợp pháp, bảo vệ lợi ích của nền kinh tế vĩ mô và đồng thời đảm bảo lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp. - Vốn vay phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi Hoàn trả đầy đủ và đúng cam kết là nguyên tắc cơ bản nhất trong kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM). Dòng tiền vào của ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu dòng tiền ra của ngân hàng trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Đây là nền tảng cho hoạt động của ngân hàng. Vì vậy ngân hàng yêu cầu e 13 khách hàng phải thực hiện nguyên tắc này một cách triệt để. Rủi ro tín dụng trong ngân hàng a. Khái niệm Kiểm soát nội bộ hoat động tín dụng hiệu quả khi nó có thể đưa ra các dự đoán về rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong tương lai và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu, hay nói một cách khác là kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng phải gắn liền với quản lý rủi ro tín dụng.TS Nguyễn Đăng Dờn [2, tr.173], rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
- Rủi ro tín dụng phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng. - Khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng. - Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất quan trọng nhất trong hoạt động của ngân hàng, là loại rủi ro chủ yếu của ngân hàng. Rủi ro tín dụng của ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau, rủi ro cấp độ nhẹ cũng sẽ làm cho ngân hàng giảm lợi nhuận, rủi ro cấp độ nặng làm cho ngân hàng không thu đủ vốn lãi, hoặc bị mất cả vốn lẫn lãi, dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ.
Nếu tình trạng kéo dài không khắc phục được ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, tuy nhiên có thể khát quát thành hai nhóm chính đó là nguyên nhân bên ngòai và nguyên nhân thuộc về nội bộ ngân hàng, cụ thể: Nguyên nhân từ bên ngoài Nguyên nhân bên ngoài dẫn đến rủi ro cho hoạt động tín dụng của ngân e 14 hàng bao gồm nguyên nhân từ khách hàng và từ môi trường kinh doanh. Đó là nguyên nhân xuất phát từ việc khách hàng do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan mà không thực hiện trả nợ ngân hàng, hoặc do môi trường kinh doanh có những biến động mà ngân hàng không lường trước được như môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho ngân hàng. Nguyên nhân từ nội tại ngân hàng Đây là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Cụ thể: - Chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp và theo kịp sự phát triển của nền kinh tế và thể lệ cho vay còn nhiều “kẻ hở” dẫn đên khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng. - Trình độ và năng lực cán bộ ngân hàng còn nhiều bất cập, chưa chấp hành đúng quy trình, qui định khi cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay; cho vay khống; cho vay thiếu tài sản đảm bảo; cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng. - Cán bộ ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn khi giải ngân/ thu nợ thậm chí cán bộ ngân hàng đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng.
- Ngân hàng quá quan tâm về lợi nhuận, chú trọng những khoản vay có lợi nhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh. - Hệ thống KSNB hoạt động tín dụng chưa hữu hiệu. Như vậy có thể nói rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được khi ngân hàng có những biện pháp thích hợp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt là rủi ro tín dụng xuất phát từ nguyên nhân nội bộ ngân hàng. Do đó hoạt e 15 động kiểm soát rủi ro tín dụng là rất cần thiết trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
Và kiểm soát nội bộ là một trong những công cụ hữu ích giúp hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại a. Khái niệm Có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về hệ thống kiểm soát nội bộ.