Mở đầu bài nghiên cứu, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn mục tiêu nghiên cứu và những kết quả đạt được như trên. Nội dung nghiên cứu chính, tức là các phần trình bày sẽ được tóm tắt trong phần giới thiệu, cũng như vấn đề tại sao phải nghiên cứu đề tài này. Phần II là phần trình bày các nghiên cứu và các kết quả đã đạt được trước đây. Phương pháp nghiên cứu, nội dung và kết quả được trình bày trong phần III và phần IV; cuối cùng tôi đưa ra các kết luận, thảo luận và kiến nghị của bài nghiên cứu trong phần V.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia. Nó làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện. Ngoài ra, nó tạo điều kiện giải quyết công ăn, việc làm, củng cố an ninh quốc phòng, chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 2.1 Các nghiên cứu về lý thuyết: Mô hình tăng trưởng Solow là một mô hình về cơ chế tăng trưởng kinh tế do Robert Solow và Trevor Swan xây dựng rồi được các học giả kinh tế khác bổ sung. Solow đã nhận được giải Nobel về kinh tế năm 1987 nhờ cống hiến này. Mô hình này còn gọi là Mô hình tăng trưởng tân cổ điển vì một số giả thiết của mô hình dựa theo lý luận của kinh tế học tân cổ điển. Mô hình này còn có cách gọi khác, đó là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, cuối cùng tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững.
Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững. Mô hình tăng trưởng Solow mở rộng mô hình tăng trưởng của Harrod– Domar (1946) bằng việc thêm vào lao động như là một yếu tố sản xuất, và tỉ lệ giữa lao động và vốn là không cố định. Điều này cho phép tách biệt giữa thâm dụng vốn và tiến trình công nghệ. Mô hình này dựa trên một số giả định sau: Giá cả linh hoạt trong dài hạn.
Đây là một quan điểm của kinh tế học tân cổ điển. Khi này, lao động L được sử dụng hoàn toàn, và nền kinh tế tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 trưởng hết mức tiềm năng và ổn định. Đồng thời toàn bộ tiết kiệm sẽ chuyển hóa thành đầu tư. Mức sản lượng thực tế Y phụ thuộc vào lượng lao động L, lượng tư bản K vài năng suất lao động A.
Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y = F(A,L,K). Giả thiết là hàm này có dạng Cobb-Douglas, tức là: Nền kinh tế đóng cửa và không có sự can thiệp của Chính phủ. Có sự khấu hao tư bản. Khi có đầu tư mới, trữ lượng vốn tăng lên.
Nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian. Khi đó lượng vốn mới có sẽ bằng lượng vốn mới tạo ra từ đầu tư, trừ đi các khoản hao mòn. Tư bản K và lao động L tuân theo Quy luật lợi tức biên giảm dần. Có nghĩa là khi tăng k thì ban đầu y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó nó tăng chậm lại.
Một số kết luận của mô hình Solow: Đầu tiên, mô hình này chỉ ra trạng thái dừng của nền kinh tế. Trạng thái dừng là điểm cân bằng mà ở đó lượng vốn giữ nguyên không đổi, bởi vì lượng đầu tư để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừ phần vốn bị hao mòn. Khi vốn không tăng thì sản lượng cũng sẽ không tăng. Vì vậy, ở trạng thái dừng, lượng vốn trên một lao động là cố định, và sản lượng trên một lao động là cố định.
Vốn và lao động không tăng thì tổng sản lượng cũng là cố định. Đây là hệ quả của hàm sản xuất có hiệu suất biên giảm dần. Nếu vốn tiếp tục tăng, sản lượng sẽ tăng nhưng với tốc độ giảm dần. Do vậy, thu nhập dành cho tiết kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần, và đầu tư tăng cũng với tốc độ giảm dần.
Vì vậy, luôn luôn tồn tại một “trạng thái dừng” của nền kinh tế, nơi mà mọi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 biến số đều hội tụ về một giá trị cố định. Như vậy, mô hình Solow dự đoán rằng những nước có tăng trưởng dân số cao hơn sẽ có mức vốn và thu nhập trên lao động thấp hơn trong dài hạn. Mô hình giải thích được sự tăng trưởng đều đặn của thu nhập bình quân một số nước là do tốc độ tăng trưởng về công nghệ. Còn tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng Y là do tăng trưởng lao động và tăng trưởng công nghệ kết hợp.2 Các nghiên cứu thực nghiệm: 2.1 Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế: FDI dường như mang lại nhiều lợi ích ngoài việc tăng vốn cổ phần trong nước mà còn tác động tích cực đến tăng trưởng năng suất thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
FDI có xu hướng ổn định hơn, và sẽ ít gây hậu quả hơn so với những loại khác. Tuy nhiên, tác động của FDI lên tăng trưởng vẫn còn là một bài toán khó đối với các nhà kinh tế học. Kết quả đạt được rất đa dạng: chẳng hạn, Soto (2000) sử dụng dữ liệu của 44 quốc gia trong giai đoạn 1986-1997 nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế với phương pháp ước lượng GMM sai phân. Kết quả cho thấy dòng vốn FDI tác động dương và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế.
Li và Liu (2005) sử dụng dữ liệu của 84 quốc gia giai đoạn 1979-1999 để đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy FDI tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển cũng như đang phát triển. Borensztein và Lee (1998) đã thực hiện phân tích hồi quy trên 69 quốc gia đang phát triển cho những năm từ 1970-1979, tác giả đã đưa ra bằng chứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 rằng FDI là phương tiện quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ và đóng góp nhiều đến tăng trưởng kinh tế. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và tăng trưởng, với dữ liệu thời kì từ 1970 đến 2005 của India, Pakistan, Malaysia, Thailand, Chile và Mexico bằng mô hình VECM và kiểm định quan hệ nhân quả Granger, Miankhel, Thangavelu (2009) cho thấy tồn tại một mối quan hệ trong dài hạn giữa FDI với tốc độ tăng trưởng ở các nước Ấn độ, Malaysia, Chi Lê.
Tuy nhiên, như đã nói, kết quả nghiên cứu là có nhiều đối nghịch. Kose (2006) lại kết luận rằng trên góc độ lý thuyết kinh tế vĩ mô thì các dòng vốn quốc tế có rất ít tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế, nhưng ông cũng thấy rằng yếu tố thể chế đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI. Alfaro và Ozcan (2009) cho rằng những tác động tổng quan của FDI lên tổng sản lượng và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là không rõ ràng. Bende-Nabende et al.
(2003) tìm thấy FDI có tác động dương đáng kể đối với các nước kém phát triển ở châu Á như Philippines và Thái Lan, nhưng đóng một vai trò tiêu cực ở các quốc gia hay vùng lãnh thổ phát triển hơn về kinh tế như Nhật Bản và Đài Loan. Durham (2004) điều tra về vai trò của FDI tới tăng trưởng của 80 quốc gia giai đoạn 1979-1998 đã không tìm thấy mối quan hệ dương giữa hai biến và lập luận rằng tác động của FDI phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nước nhận đầu tư. Gorg và Greenaway (2004) cũng tiến hành những phân tích lý thuyết lại đưa ra kết luận rằng FDI hầu như tạo ra những tác động tiêu cực cho tăng trưởng kinh tế. Đóng góp khá nhiều vào các tranh luận xoay quanh mối quan hệ tích cực hay tiêu cực của FDI lên tăng trưởng kinh tế phải kể đến bài nghiên cứu của tác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 giả Lipsey và Sjöholm (2005) xem xét tác động của FDI tới các nước sở tại và đã thấy các kết quả khác nhau ngay cả khi sử dụng kỹ thuật ước lượng, dữ liệu và khoảng thời gian tương tự.
Nguyên nhân là do thể chế thị trường lao động (luật lao động) ảnh hưởng tới hiệu ứng lan tỏa tiền lương, hoặc quy mô thị trường sở hữu nhỏ, lạc hậu ảnh hưởng tới sự cạnh tranh với các công ty nước ngoài khác. Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI còn làm suy giảm tiền lương và việc làm tại nước sở tại bằng cách di chuyển sản xuất ra nước ngoài. Họ ép tiền lương ở nước sở tại bằng cách khai thác công nhân có năng lực yếu hơn, dẫn tới bóp nghẹt tăng trưởng và cản trở tiến bộ công nghệ. Như vậy, sự không đồng nhất trong các yếu tố nước sở tại hay còn được gọi là "năng lực hấp thụ" chính là nguồn gốc cho những phát hiện mâu thuẫn nhau trong các nghiên cứu thực nghiệm.