CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Rủi ro là gì Theo trường phái truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro (risk) là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai. Định nghĩa theo từ điển thông thường, “rủi ro là nguy cơ, khả năng xảy ra kết quả xấu, tổn thất, …; sự đối đầu với nguy cơ tổn thất”. Theo định nghĩa tài chính, “rủi ro là nguy cơ/ cơ hội, khả năng xảy ra kết quả xấu hoặc tốt, tổn thất/ lợi nhuận ……; sự đối đầu với một nguy cơ/ cơ hội có khả năng mang lại tổn thất/ lợi nhuận”.
Rủi ro tín dụng Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107). Luan van 10 Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Còn theo Henie Van Greuning - Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (Hennie van Greuning-Sonja Brajovic Bratanovic (1999), Analyzing banking Risk, the Wold Bank). Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Quản trị rủi ro tín dụng Hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề Quản trị rủi ro tín dụng: Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình quản trị có hệ thống với bốn hoạt động cơ bản: nhận diện rủi ro; đo lường rủi ro; đánh giá rủi ro; và tài trợ rủi ro. Kết quả của mỗi khâu trước sẽ là tiền đề cho các khâu sau. Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, ảnh hưởng bất lợi của RRTD. Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình Ngân hàng sử dụng tổng thể các biện pháp tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản Luan van 11 lý để phòng ngừa và kiểm soát rủi ro tín dụng, xác định mức rủi ro có thể xảy ra ở mức lường trước được và hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất, tức là ở dưới mức tổn thất dự kiến.
Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận QTRRTD dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng bản chất thì giống nhau và đứng trên giác độ quản trị học, khái niệm QTRRTD là quá trình nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của RRTD nhằm tối đa hoá lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận được. QTRRTD bao gồm 4 nội dung gồm: Nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ RRTD. Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia RRTD thành các loại khác nhau.
* Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành hai loại sau đây: Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng - Rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách hàng cụ thể, là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá Luan van 12 khách hàng, kiểm soát sau khi cho vay hoặc do sơ hở trong việc thực hiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro giao dịch chia thành ba loại: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: Liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng; + Rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề; + Rủi ro bảo đảm: Rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản hợp đồng, mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể tài sản đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. - Rủi ro danh mục: Rủi ro phát sinh liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc quá tập trung cho vay một ngành, một lĩnh vực, một nhóm khách hàng, một khách hàng.
Nó là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục được phân thành rủi ro cá biệt và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đề nghị cấp tín dụng hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng; + Rủi ro tập trung: Do TCTD tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng/ nhóm khách hàng liên quan, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
* Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì RRTD được phân ra rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. - Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên Luan van 13 tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. * Nếu phân loại theo phương diện quản lý, giám sát của ngân hàng, RRTD phân chia thành RRTD nhận diện được và RRTD chưa nhận diện được.
- RRTD nhận diện được: Là loại RRTD mà TCTD có thể nhận diện được nguyên nhân gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian phát sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế rủi ro. Những rủi ro thuộc loại này thường do yếu tố chủ quan của con người gây ra, thông thường là xuất phát từ phía khách hàng. - RRTD chưa nhận diện được: Là loại RRTD mà TCTD không thể dự đoán được, không biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra. Những RRTD loại này thường không do yếu tố chủ quan gây ra mà chủ yếu là do những yếu tố khách quan gây ra như: Thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn… 1.
Tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu và kết quả phân loại nợ. Hệ số nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn (Nợ nhóm 2, 3, 4 và 5). Dư nợ quá hạn Hệ số nợ quá hạn = ------------------------------- x 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn < 5% Luan van 14 Tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn để được gia hạn nợ (Nợ nhóm 3, 4 và 5). Dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = ------------------------------- x 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu < 3% Phân loại nợ: Theo Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm sau: + Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. + Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. + Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.