Đặt vấn đề : Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu sẽ xuất hiện quan hệ tín dụng giữa các các nhân, tổ chức trong nền kinh tế với nhau. Chính vì vậy mà có sự xuất hiện của Ngân hàng, đây là một trung gian tài chính có chức năng : nhận tiền gửi nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế.sau đó cho các cá nhân, thành phần kinh tế khác vay lại với lãi suất phù hợp với tình hình thực tế từng thời kỳ. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh rủi ro sao cho Ngân hàng có thể vừa mở rộng quy mô, vừa tăng lợi nhuận vừa đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Cho nên, công tác quản trị rủi ro bao gồm quản lý và đo lường rủi ro có vai trò cực kỳ quan trọng đối với ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản nhất của ngân hàng, nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về khối lượng công việc cũng như mức độ tạo lợi nhuận. Đặc biệt, ở những nước đang phát triển như ở Việt Nam, hoạt động cho vay chiếm tới 90% hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ thuận với nó là mức độ rủi ro của nghiệp vụ này cũng chiếm phần lớn trong tổng mức rủi ro của hoạt động ngân hàng. Vì vậy, việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng.
Hiện nay thì hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàng tại thị trường Việt Nam hiện nay còn kém hiệu quả dẫn đến việc nợ xấu nhiều và thua lỗ dẫn đến việc sát nhập hàng loạt các Ngân hàng như trong thời gian qua. Đây là thực tế mà chúng ta cần nhìn nhận và chú trọng quan tâm một cách sâu sắc hơn nữa để từng bước cải thiện quy trình. Tính cấp thiết của đề tài : Ngân hàng có vai trò quan trọng đảm bảo tính thanh khoản trong nền kinh tế. Khi ngân hàng kinh doanh bị lỗ liên tục hoặc thường xuyên không đủ khả năng c 2 thanh khoản có thể dẫn đến phá sản và điều này sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng vốn, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức mua giảm sút, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng trong nước và khu vực.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra , rủi ro này phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay. Nói cách khác, “rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng”. Theo Báo Tiền Phong đưa tin ngày 15/05/2015 thì tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các TCTD đến cuối năm 2014 là 145.200 tỷ đồng tương đương 3,25% tổng dư nợ và nợ xấu theo số liệu giám sát của NHNN là 214.900 tỷ đồng tương đương 4,83% tổng dư nợ. Nhưng theo thống kê các cơ quan xếp hạng trên thế giới đã đưa ra con số ước tính rằng tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam đang ở mức khoảng 15% năm 2014.
Tại thời điểm 9 tháng đầu năm 205 theo số liệu chính thức từ NHNN thì tỷ lệ nợ không có khả năng thanh toán (NPLs) trên tổng tín dụng đạt mức 2,9%, giảm đáng kể so với mức 4,2% tại thời điểm cùng kỳ năm ngoái. Cũng theo số liệu Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) công bố cho biết tính đến ngày 25/10/2015, VCMC đã mua được 226.028 tỷ đồng nợ xấu của 39 Tổ chức tín dụng với giá mua là 191. Trong đó, VAMC đã phối hợp với các TCTD thu hồi được gần 16.277 tỷ đồng (bao gồm thu từ bán nợ/bán TSBĐ…) từ các khoản nợ xấu mua về. Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê trong những năm gần đây quy mô các vụ án về tín dụng ngân hàng ngày càng lớn cả về hành vi, hậu quả và giá trị, số người phạm tội ngày càng gia tăng, tính chất ngày càng phức tạp.
Tại buổi báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết của Quốc hội, kỳ họp thứ 10, quốc hội khóa 13, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang cho biết từ tháng 6/2012 đến nay, lực lượng công an đã phát hiện, xử lý 46.572 đối tượng phạm tội về kinh tế, 1.930 đối tượng phạm tội về tham nhũng. Điển hình như vụ Huỳnh Thị Huyền Như c 3 gây thiệt hại trên 4.000 tỷ đồng, vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội gây thiệt hại 3. Vụ Hà Văn Thắm và ba lãnh đạo khác của ngân hàng Đại Dương cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây thiệt hại 5. Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) là ngân hàng lớn, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử.
Ngày nay, Vietinbank đã có những kết quả vượt bậc, liên tục tăng trưởng mạnh mẽ và với mục tiêu trở thành ngân hàng hiện đại hàng đầu Việt Nam, hướng đến trình độ tương đương các ngân hàng hiện đại trong khu vực và trên thế giới, VietinBank đã và đang có những hoạt động tích cực trong việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị và kinh doanh tài chính, tiền tệ; gia tăng tiện ích cho khách hàng. Bên cạnh việc xây dựng nền tảng công nghệ, cung cấp sản phẩm dịch vụ hiện đại cho khách hàng và hỗ trợ quản trị ngân hàng, VietinBank còn đầu tư cho nguồn lực quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro trong lĩnh vực CNTT nói riêng. Đây là ngân hàng tiên phong lập Phòng An ninh hệ thống với lực lượng chuyên trách cho công tác đảm bảo an toàn thông tin (ATTT) toàn hệ thống cũng như của khách hàng. Hàng loạt giải pháp, hệ thống công nghệ bảo mật uy tín trên thế giới đã được VietinBank triển khai, áp dụng một cách đồng bộ, tạo dựng hệ thống đảm bảo ATTT tổng thể, có chiều sâu.
Song song đó, VietinBank cũng luôn chú trọng đẩy mạnh công tác hậu kiểm, giám sát, kiểm soát chéo về ATTT nhằm đảm bảo phát hiện sớm các rủi ro CNTT để kịp thời xử lý. Tuy nhiên, cùng với những bài học lịch sử trong quá khứ, những rủi ro gây tổn thất về mặt kinh tế vĩ mô nói chung và ngành ngân hàng nói riêng trong thời gian qua giúp ta nhận thấy mức độ quan trọng hơn bao giờ hết về vấn đề nâng cao hơn nữa năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank nói riêng và các hệ thống ngân hàng nói chung. Vì vậy, đề tài nghiên cứu : “ Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh TP.Hồ Chí Minh” được chọn thực hiện nhằm mục đích đánh giá tổng quát hơn về thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng này. Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu : 2.1 Mục tiêu của đề tài : Luận văn này được xây dựng dựa trên các mục tiêu như sau: Hệ thống hóa góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị tín dụng của NHTM trong nền kinh tế.
Đánh giá tình hình hoạt động tín dụng, công tác quản trị rủi ro tín dụng hiện nay và lượng hóa các rủi ro tín dụng tiềm ẩn tại Vietinbank – CN TP. Phân tích các mô hình lượng hóa rủi ro trong hoạt động tín dụng tại hệ thống ngân hàng nói chung và tại Vietinbank – CN TP. Tìm ra cơ sở khoa học và đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng nhằm giảm nợ xấu hiện nay tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh TP.HCM nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2.
Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN TP. Phạm vi nghiên cứu : Phạm vi về không gian: Đề tài khảo sát hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN TP. Địa chỉ: 79A Hàm Nghi, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP. Phạm vi về thời gian: Thực trạng được tập trung nghiên cứu qua các năm từ năm 2012 đến tháng 9 năm 2015.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu : 2. Phương pháp luận : Luận văn này sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật. Khi sử dụng phương pháp luận này dẫn đường cho việc nghiên cứu và giúp việc nghiên cứu đứng trên quan điểm toàn diện, đồng thời vận dụng các nguyên lý của phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và trong vận động. Phương pháp nghiên cứu : Để thực hiện nghiên cứu đề tài này phải sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính.
Nhằm hướng người đọc có một cái nhìn tổng quát về lĩnh vực tài chính ngân hàng, các mô hình tổng quát về quản trị rủi ro tín dụng và qua lý thuyết đó chúng ta sẽ hiểu sâu sắc hơn về tình hình hoạt động kinh doanh tại Vietinbank – CN TP. Bên cạnh đó, các phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và tham khảo các công trình nghiên cứu khác có liên quan cũng được sử dụng để làm nổi bật và sâu sắc nội dung nghiên cứu của đề tài. Thông tin dữ liệu cần thu thập Nghiên cứu này tập trung vào tình hình tín dụng trong giai đoạn 2011 – 2015 và tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank – CN TP. Quy trình thu thập điều tra dữ liệu: Xác định dữ liệu cần thiết và lên kế hoạch thu thập Thu thập số liệu và lên bảng, biểu đồ Lựa chọn dữ liệu và phân tích, đánh giá độ tin cậy Nhập dữ liệu theo sự sắp xếp nghiên cứu 2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu Dữ liệu thu thập được sẽ được thống kê, tập hợp, lựa chọn, hiệu chỉnh, mã hóa và phân tích, đánh giá.
Đồng thời sẽ sử dụng các bảng biểu, biểu đồ để minh họa c 6 cho các nội dung phân tích.