CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO TIÊU CHUẨN BASEL II 1. Rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Tại Việt Nam, theo luật ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng được ban hành ngày 26/12/1977, NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện nghĩa vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán”. Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM Rủi ro tín dụng là rủi ro rõ ràng nhất mà các nhà quản lý ngân hàng cần phải giải quyết vì nó được coi là nguyên nhân của phần lớn các thất bại của ngân hàng (Fraser và cộng sự, 2001). Rủi ro tín dụng dẫn đến thất bại của nhiều ngân hàng trên thế giới (Greuning and Bratanovic, 2003).
Có nhiều định nghĩa về RRTD theo nhiều quan điểm: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng nợ nhưng không có khả năng chi trả. Trong hoạt động ngân hàng, RRTD xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Rủi ro tín dụng theo khoản 1 Điều 2 của “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng” ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN: “RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo Hiệp ước Basel II của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel thì RRTD được định nghĩa như sau: “RRTD là rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả năng hoặc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi nghĩa vụ trong hợp đồng”.
Phân loại rủi ro tín dụng 1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh - Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro đảm bảo: xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro có liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động tín dụng, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục (Portfolio risk): là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại (Intrinsic risk): phát sinh từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay, lĩnh vực kinh tế.
6 Rủi ro tập trung (Concentration risk): là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; hoặc doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hay tại cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ.
Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua,… 1. Những chỉ số đánh giá mức độ rủi ro tín dụng 1. Nợ quá hạn Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn”. Nợ quá hạn là thước đo quan trọng nhất phản ánh rủi ro tín dụng, tác động tới các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng.
Cách xác định chỉ tiêu này với kết quả thấp sẽ chứng tỏ các khoản tín dụng của ngân hàng đảm bảo chất lượng, mức rủi ro trong việc cấp tín dụng của ngân hàng là cao. Ngược lại, nếu tỷ lệ này cao thể hiện khả năng sử dụng đồng vốn của ngân hàng thấp. Nợ quá hạn có nhiều mức độ khác nhau: Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các NHTM thường chia nợ quá hạn thành các nhóm sau: - Nợ quá hạn đến 180 ngày: có khả năng thu hồi. - Nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày: có khả năng thu hồi.
7 - Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên: nợ khó đòi. Phân loại nợ Dựa trên Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu (hay các tên gọi khác như nợ có vấn đề, nợ khó đòi…) là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 và có các đặc trưng sau: Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn. Tính tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi. TSĐB được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân từ phía người cho vay (các ngân hàng) Nguyên nhân đầu tiên thuộc về ngân hàng phải kể đến là việc CBTD của ngân hàng không tuân thủ nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cũng như quy trình cho vay. Bên cạnh đó, đạo đức của CBTD cũng là một trong những yếu tố quan trọng để hạn chế RRTD.
Một cán bộ kém về năng lực thì có thể học hỏi thêm kinh nghiệm, nhưng một cán bộ “có tài mà không có đức” được bố trí công tác tín dụng thì vô cùng bất lợi đối với ngân hàng. 8 Nguyên nhân thứ hai là chính sách và quy trình cấp tín dụng còn lỏng lẻo, chưa quan tâm đến việc phân tích khách hàng để xem xét các điều kiện và khả năng trả nợ hoặc các phương pháp xem xét phân tích còn nhiều hạn chế, chưa chính xác. Đối với cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và các cá nhân, hộ gia đình, quyết định cấp tín dụng của ngân hàng chủ yếu chỉ dựa trên kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng. Nguyên nhân thứ ba là kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như: việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn còn chưa thích hợp, chủ yếu là cho vay trực tiếp, sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn.
Nguyên nhân thứ tư là chưa có sự hợp tác giữa các ngân hàng với nhau và Trung tâm Tín dụng (CIC) chưa thực hiện tốt vai trò của mình. Giữa các ngân hàng chưa có sự trao đổi thông tin về khách hàng vay vốn, dẫn đến một khách hàng mất uy tín do không trả được ở ngân hàng này có thể lại vay ở ngân hàng khác, gây ra rủi ro cho tất cả các ngân hàng. Hay do ngân hàng dữ liệu hiện nay của CIC còn sơ sài, chưa được cập nhật và xử lý thường xuyên nên các thông tin về cho vay thiếu tính chính xác và tin cậy, kịp thời để phân tích, xem xét trước khi cấp tín dụng. Nguyên nhân từ phía người đi vay Nguyên nhân từ phía khách hàng là một trong những nguyên nhân chính gây ra RRTD.
Tuy nhiên, nguyên nhân này có thể nắm bắt và hạn chế được nếu ngân hàng thực hiện tốt việc sàng lọc khách hàng, kiểm tra, giám sát và quản lý khách hàng trong suốt quá trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng vay vốn không trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể chia thành hai nhóm chính sau: Nguyên nhân khách quan: là những tác động ngoài ý muốn của khách hàng như do thiên tai, hỏa hoạn, do sự ổn định của các chính sách kinh tế chưa chắc chắn, hoặc do sự thay đổi đột ngột chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch, do hành lang văn bản pháp lý chưa phù hợp, do biến động của thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu của hàng hóa thay đổi… 9 Nguyên nhân chủ quan: chính là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng. Đầu tiên là vốn tự có để tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn quá ít so với nhu cầu. Thứ hai là năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Thứ ba là công nghệ sản xuất chưa đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Bên cạnh đó cũng phải kể đến nguyên nhân thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng từ khi xin vay vốn. Các nguyên nhân gây ra RRTD rất đa dạng, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng.