CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Tổng quan về rủi ro tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của rủi ro tác nghiệp. Khái niệm rủi ro tác nghiệp: Rủi ro tác nghiệp (RRTN) hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại là loại rủi ro khó lường nhất.
Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và trên thế giới đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro tác nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và tài sản của NHTM. Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập; công nghệ ứng dụng trong ngân hàng ngày càng hiện đại và đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay, ngành ngân hàng cần phải nghiêm túc tìm hiểu, nghiên cứu về RRTN, từ đó có những cải cách mạnh mẽ để tăng cường quản trị rủi ro tác nghiệp. Trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về RRTN. Để phân biệt rủi ro tác nghiệp (RRTN) với các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng, cần phải định nghĩa về RRTN.
Một số các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng lớn đã tự định nghĩa vể RRTN cho tổ chức của mình. Ngân hàng Deutsche của Đức đã định nghĩa RRTN là “nguy cơ tổn thất do nhân viên, văn bản hướng dẫn, công nghệ, sự sai sót mang tính hệ thống, những yếu tố tác động bên ngoài và mối quan hệ với khách hàng” [11, tr. Năm 2003, Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch Mỹ (SEC) cũng đưa ra định nghĩa về RRTN: “là nguy cơ tổn thất do sự mất kiểm soát về sự vượt quá giới hạn, giao dịch vượt thẩm quyền, sự gian lận trong hoạt động kinh doanh hoặc tại 4 bộ phận n “back office”, sự s thiếu kinh nghiệm củaa nhân viên và tính không bbảo mật và thiếu ổn định của hệ thống th công nghệ”[15, tr. Những định nghĩa ĩa về RRTN được chấp nhận rộng rãi nhất tại Ngân hàng thương mại đó là định nh nghĩa ngh tại Basel II.
Theo Basel II, RRTN đượcc đđịnh nghĩa như sau: “ Đó là nguy cơ tổn n thất th do các quy trình, con người và hệ thống ng nnội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt ho động, hay do các sự kiệnn bên ngoài. Khái ni niệm RRTN bao gồm cả rủi ro luậtt pháp, nhưng nh không bao gồm rủi ro chiếnn lư lược và rủi ro uy tín doanh nghiệp” [02,, tr.18 Định nghĩa này đã chỉ ra bốnn nguyên nhân ddẫn tới RRTN đó là: con người,, quy trình hoạt ho động, hệ thống, và các sự kiệện bên ngoài và được khái quát theo sơ đ 1. Định nghĩa sẽ được sử dụụng xuyên suốt ơ đồ trong luận văn này. Rủi ro tác nghiệp Con Quy trình, Quy Hệ Sự kiện bên người định đị thống ngoài Rủi ủi ro do Rủi ro do các sự kiện quá trình Hệ thống công nghệ hoặc ặc hành động bên Rủi ro do tổ thông tin hay hệ chức,quản kinh doanh ngoài có những tác hoặc hoặ do thống truyền thông động xấu lên hoạt lý nguồn không đầy đủ hoặc nhân lực quá trình động kinh doanh nằm giao dịch d không hoạt động; do ngoài khả năng kiểm không hiệu không có hoặc có quả không thực th soát lập tức của ngân hiện được không đủ dữ liệu.1: Các yếu tố làm phát sinh RRTN 1.
Đặc điểm m của c rủi ro tác nghiệp. Rủii ro tác nghiệp nghi là một loại rủi ro đa dạng, phức tạp. Khác với các loạii rủi r ro khác, RRTN không phải là rủii ro giao ddịch mà là loại rủi ro gắn vớii quy trình, con người, ng hệ thống và có thể do các sự kiệnn bê bên ngoài gây ra, chính vì thế nó đa dạng. 5 Sự đa dạng chính là đặc điểm nổi bật nhất của RRTN, đặc điểm giúp phân biệt rõ ràng được RRTN với các rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng mặc dù chúng có quan hệ khá mật thiết và gắn bó với nhau.
Sở dĩ RRTN phức tap, đa dạng bởi vì nó có thể xuất phát từ nhiều phòng ban, bộ phận khác nhau của ngân hàng, có mặt ở nhiều quy trình nghiệp vụ, từ huy động, tín dụng, bảo lãnh cho đến nghiệp vụ thẻ, điện toán,. Sự đa dạng của RRTN làm cho các NHTM rất khó khăn để nhận biết, mô tả nó hơn là rủi ro truyền thống như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng. RRTN khó đo lường, khó quản lý. Vì đa dạng và có mối quan hệ đến các yếu tố khác, RRTN rất khó để đo lường, quản lý hơn nhiều so với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường.
Nghiên cứu của công ty kiểm toán hàng đầu KPMG vào năm 2003 cũng cho rằng RRTN là loại rủi ro khó nhận biết, khó định lượng được và cũng rất khó quản lý. Mấu chốt là ở việc mô hình hóa RRTN là một công việc khó khăn vì vấn đề dữ liệu, khó có sự đồng nhất giữa các lỗi phát sinh trong quá trình tác nghiệp, do các lỗi phát sinh đa dạng từ nhiều điểm khác nhau của một quy trình, ở các quy trình khác nhau, tính chất lỗi phát sinh cũng rất khác nhau. Ngoài ra, vì RRTN luôn có mặt trong mọi hoạt động, mọi quá trình, nên trách nhiệm quản lý RRTN rất khó tập trung vào một cơ quan, phòng ban nào đó. Điều đó gây ảnh hưởng rất nhiều đến việc quản lý RRTN.
RRTN cũng đi kèm với lợi nhuân kì vọng. Nhiều quan điểm cho rằng, RRTN là loại rủi ro khác biệt nhất với các loại rủi ro khác, bởi vì nó không đi kèm với doanh lợi, lợi nhuận kì vọng đúng như nguyên tắc: “Lợi nhuận kỳ vọng tỷ lệ với rủi ro gặp phải”. Quan điểm này là hoàn toàn sai lầm, RRTN cũng đi kèm với doanh lợi kỳ vọng của nó. Ví dụ: chúng ta lắp gấp đôi số lượng máy ATM trên một địa bàn, thì nhiều khả năng chúng ta sẽ có thêm được khoản thu từ phí rút tiền của khách hàng.
Nhưng gấp đôi số máy nghĩa là chúng ta cũng phải đối mặt khả năng RRTN, gian lận, mất mát nhiều hơn. RRTN luôn luôn song hành với hoạt động kinh doanh của NHTM,và một NHTM sẽ ko có 6 RRTN chỉ khi NHTM đó chấm dứt hoạt động. Và chúng ta càng khẳng định tính chính xác của nguyên tắc: “Từ rủi ro mới tạo ra giá trị, lợi nhuận chỉ đến tử rủi ro mà thôi”. RRTN khó xác định 1 đơn vị phù hợp để đo lường.
Rủi ro tín dụng thì đơn vị rủi ro có thể là một cá nhân, một tổ chức, rủi ro thị trường thì đơn vị có thể là tài sản (trái phiếu, cổ phiếu, tiền tệ.) do biến động giá cả thì trường gây nên tổn thất. Còn RRTN thì đơn vị là cả quá trình hoạt động. Mặt khác, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường là những loại rủi ro đặc thù của hoạt động ngành công nghiệp ngân hàng, còn RRTN là 1 loại rủi ro kinh doanh nói chung, có tính chất đặc biệt. Ngoài ra, RRTN còn có một số đặc điểm như: mang tính chất cố hữu trong mọi quy trình, nghiệp vụ của một NHTM, là loại rủi ro có ảnh hưởng đến uy tín ngân hàng, không có cơ chế lây lan giữa các NHTM với nhau,.
Mối quan hệ giữa rủi ro tác nghiệp với các loại rủi ro khác. Các rủi ro trong hoạt động ngân hàng có mỗi quan hệ chặt chẽ, biện chứng ,tác động lẫn nhau. Trong số các loại rủi ro mà ngân hàng thương mại phải đối mặt thì RRTN là loại rủi ro có quy mô ảnh hưởng nhiều nhất và bao trùm, ảnh hưởng lên tất cả các loại rủi ro khác. Chúng ta có thể khái quát được sự liên hệ chặt chẽ của RRTN với một số rủi ro cơ bản khác theo sơ đồ 1.
RỦI RO RỦI RO RỦI RO THANH THỊ TÁC TOÁN TRƯỜNG NGHIỆP Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các loại rủi ro cơ bản 7 Khi RRTN xảy ra sẽ kéo theo một loạt các rủi ro khác, ví dụ phòng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng X có quan hệ tốt với tập đoàn Y, có quan hệ cá nhân với lãnh đạo tập đoàn, thêm nữa quá kỳ vọng vào khả năng thành công của phương án kinh doanh của tập đoàn Y nên đã quyết định giải ngân cho tập đoàn Y 100 tỷ đồng mà chưa thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình thẩm định khoản vay như chưa tính toán kỹ lưỡng đến biến động thị trường, nguồn trả gốc và lãi của dự án, kiểm tra tài sản đảm bảo. Khi môi trường kinh doanh thay đổi, thị trường hàng hóa tiêu thụ khó khăn (rủi ro thị trường phát sinh), tập đoàn Y đã gần như không có khả năng hoàn trả và khi kiểm tra tài sản đảm bảo trong kho hàng thì kho trống rỗng (rủi ro tín dụng xảy ra), ngân hàng bị thất thoát tài sản. RRTN là rủi ro phát sinh từ con người, từ hệ thống nội bộ nên nó gắn liền với từng phòng ban hiện có của ngân hàng. Chính vì vậy trong quản lý rủi ro nếu quản lý tốt RRTN sẽ làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro khác.
Ví dụ một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, có nhiều kinh nghiệm, kèm một quy trình thẩm định khách hàng chặt chẽ sẽ có khả năng thẩm định tốt được khoản vay của khách hàng để ra quyết định những quyết định cho vay chính xác vừa đảm bảo lợi nhuận vừa đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng. Phân loại rủi ro tác nghiệp. Tùy theo những tiêu chí khác nhau như nguyên nhân gây nên rủi ro, mức độ ảnh hưởng của rủi ro, mức độ dự đoán rủi ro… mà RRTN có thể phân loại thành các nhóm khác nhau. Dưới đây, luận văn sẽ trình một số tiêu chí phân loại chủ yếu.
Phân loại theo nguyên nhân gây nên rủi ro tác nghiệp Theo tiêu chí này, RRTN gồm bảy nhóm sau: RRTN do gian lận nội bộ: tổn thất do các sự kiện gian lận, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, giả mạo hồ sơ chứng từ, biển thủ tham ô tài sản ngân hàng, phá hoại tài sản ngân hàng, trộm cắp tống tiền… do nhân viên ngân hàng gây ra hoặc tiếp tay cho tội phạm. 8 RRTN do gian lận bên ngoài là các RRTN do đối tượng bên ngoài thực hiện, nhưng cũng có nguyên nhân từ sự yếu kém trong quản trị nội bộ của ngân hàng, sơ hở hoặc trình độ năng lực kém của nhân viên ngân hàng.