Chương 1: Cơ sở lu luận về quản trị RRTD trong hoạt động cho vay DN tại NHTM. - Chương 2: Thực trạng công tác quản trị RRTD trong cho vay DN tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam — Chỉ nhánh Buôn Hồ. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị RRTD trong cho vay DN tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ~ Chỉ nhánh Buôn Hồ. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tài liệu tham khảo, nghiên cứu vẻ lĩnh vực liên quan lĩnh vực quản trị RRTD rất nhiều, tác giả đã chọn lọc, tham khảo một số tài liệu nghiên cứu tiêu biểu có liên quan như sau: ~ Một số Ì in văn có nội dung gần với đề i nghiên cứu.
- Một số cuốn sách chuyên ngành về Tài chính Tiền tệ, Quản trị ngân hàng thương mại và tài liệu giảng dạy bộ môn quản trị ngân hàng thương mại của Trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nằng, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh. - Tác giả cũng tham khảo thêm một số tài liệu có tính thực tiễn hơn, bao. gồm: Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của thống đốc NHNN Việt Nam vẻ “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lư rủi ro cho vay trong hoạt động của TCTD, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài”; Các báo cáo thường niên, quy trình, văn bản, chế độ chính sách do Agribank ban hành; Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012 - 2015 của Agribank — Chỉ nhánh Buôn Hỗ là nguồn tài liệu quan trọng giúp tác giả tập hợp số liệu viết đề tài.
CHƯƠNG L CƠ SỞ LƯ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DN CỦA NHTM 1. TONG QUAN VE RRTD VA QUAN TRI RRTD TRONG HOAT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NHTM 1. Khái niệm rủi ro Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về rủi ro, rất đa dạng, phong phú nhưng tựu trung lại có thể chia làm 2 trường phái lớn: Trường phái truyền thống. (hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa (còn gọi là trường.
phái hiện đại). Có thể tóm tắt các khái niệm hai trường phái này như sau: a. Theo trường phái truyền thống Rủi ro là những thiệt hại, mắt mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra với con người Thực tế cho thấy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà rủi ro luôn tiềm ẩn và ngày càng tăng theo chiều hướng khác nhau. Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro cho con người cũng ngày càng nhiều và đa dạng hơn, mỗi ngày qua lại xuất hiện những loại rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ.
Con người cũng quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu rủi ro, trong quá trình nghiên cứu có nhận thức về rủi ro của con người cũng thay đổi, trở nên khoan dung, trung hòa hơn. Theo trường phái hiện đại Rui ro là sự bắt trắc có thể đo lường được. Rủi ro có tính hai mặt: vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mắt mát, nguy hiểm.nhưng đồng thời, rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội.
Do đó, nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, người ta không chỉ tìm ra những biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế, giảm thiểu những thiệt hai do rủi ro gây ra mà có thể biến thách thức thành những cơ hội mang lại những kết quả tốt đẹp trong tương lai. RRTD trong NHTM «. Khái niệm về RRTD RRTD là rủi ro mà các dòng tiền (cash flows) được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ. Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của RRTD như sau: ~RRTD khi người vay sai hen trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn và hoặc lãi.
Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. ~RRTD sẽ dẫn đến tốn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thê dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. ~Đối với các nước đang phát triển như ở Việt Nam, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vu tai chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vi vậy tín dụng được coi la dich vu sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ.
Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. ~Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định, lợi nhuận kỳ vọng càng cao. thì rủi ro tiểm ẩn càng lớn ~Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD, tựu trung chúng ta có thể khái quát chung định nghĩa như sau: RRTD là rủi ro về sự tổn thất tài chính. (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không trả được nợ.
hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng b. Đặc điểm của RRTD trong hoạt động kinh doanh của NHTM. - RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho KH. RRTD xảy ra khi KH gặp những tốn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của KH là nguyên nhân chủ yếu gây nên RRTD.
của ngân hàng. ~ RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung gian tải chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng, ngừa và xử lư RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp. - RRTD có tính tất yếu tức luôn tổn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bắt cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng.
Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. b, Phân loại RRTD trong NHTM Tùy theo mục đích, yêu cầ nghiên cứu mà phân loại RRTD phủ hợp: > Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì RRTD được phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. ~_ Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, người vay chết, mắt tích và các biến động ngoài dự. khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực nghiêm túc các chế độ, chính sách.
~ Rủi ro chủ quan là rủi ro do chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. > Can cit vio nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại theo sơ đồ sau đây: Rủi ro tin dung Rui ro Rai ro giao dich danh mục. t t 4 ‡ 1 Rủi ro Rui ro Rai ro Rui ro Rủi ro lựa chọn || bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung. Phân loại RRTD ~Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH.
Rủi ro giao dịch bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tin dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng chưa tốt, thiếu bao quát, có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro. + Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các vấn đề liên quan đến đảm bảo tải sản như điều khoản bảo đảm tín dụng thiếu chặt chẽ, danh mục tài sản đảm bảo thiểu tính cụ thể, hình thức bảo đảm và phương pháp xử lý tài sản còn bắt cập. + Rui ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng nội bộ và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề ~ Rủi ro danh mục: RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành: + Rủi ro nội tại: xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn. + Rủi ro tập trung: rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một ving địa lý nl định.
> Căn cứ vào hình thức tài trợ vốn,RRTD bao gồm rủi ro nội bảng (cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính.) và rủi ro ngoại bảng (bảo lãnh, cam kết thanh toán L/C.) > Căn cứ theo tác động đến danh mục tín dụng, RRTD bao gồm: ~Rủi ro đặc thù: RRTD của một người vay cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện. Có thẻ hiểu RRTD đặc thù là một kiểu rủi ro mà với mỗi dự án khác nhau mang lại những rủi ro khác. Với dự án này thì yếu tố rủi ro nằm ở điểm này nhưng dự án khác thì yếu tố rủi ro lại nằm ở điểm khác, tức nguyên nhân của RRTD không giống nhau. Mỗi khoản tín dụng được cấp sẽ có những đặc trưng khác nhau, không.
khoản cho vay nào giống nhau và do đó cũng đưa đến những RRTD khác nhau. Rủi ro đặc thù có thể tối thiểu hóa rủi ro nhờ đa dạng hóa. ~Rủi ro hệ thống: RRTD phát sinh do những điều kiện, bối cảnh chung.