chương 1 phần lý luận chung về các cơ sở lý luận liên quan đến công tác xây dựng kế hoạch, tác giả không nêu ra các khái niệm về lập kế hoạch hay vai trò của lập kế hoạch mà di trực tiếp vào việc phân loại kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp phần giới thiệu chung về công ty, tác giả đã tập trung. quá sâu vào phân tích các tinh hình tài chính làm loãng dé tai chính của bài nghiên cứu. 'Bên cạnh đó, tác giả chưa chỉ ra và phân tích các căn cứ đẻ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy. - Bài viết Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch kiếm toán hàng năm của kiếm toán nhà nước từ kinh nghiệm của nước Đức của Thạc sỹ Lê Thị Như Quỳnh, Khoa Kế toán - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp đăng trên chuyên mục Kết quả nghiên cứu , website Tap chi Công Thương (hitp7/wvww.vn ) ngày 04 thing 06 năm 2018.
dung sau: (1) Sự cần thiết phải xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm của Kiểm toán Nhà nước; (2) Kinh nghiệm của nước Đức trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán của Kiểm toán Nhà. nước như về mục đích lập kế hoạch kiểm toán năm, về trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc, kiểm toán viên trong lập kế hoạch kiểm toán năm, về cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm toán năm, về lựa chọn các cuộc kiểm toán, về những chỉ tiêu trong kế hoạch kiểm toán năm, về trình tự lập kế hoạch kiểm toán năm ; (3) Từ những kinh nghiệm quý báu của nước Đức, nghiên cứu đã tìm ra những bài học rút ra cho Kiểm toán Nhà nước Việt Nam khi thực hiện kế hoạch kiểm toán năm như sau: Thứ nhất, cần nâng cao vai trỏ, trách nhiệm của các KTNN chuyên ngành và KTNN khu vực. trong việc lập kế hoạch kiểm toán năm; Thứ hai, hàng năm Hội đồng KTNN phân tích nhiệm vụ, xác định mục tiêu cho kế hoạch kiểm toán năm và các chủ đề kiếm. toán để định hướng cho các KTNN chuyên ngành và KTNN khu vực trong lập kế hoạch kiểm toán năm; Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức kiểm toán.
Trong kế hoạch kiểm toán năm cần đa dạng hóa và xác định hình thức kiểm toán thích hợp. đối với từng đối tượng kiểm toán phù hợp với mục tiêu kiểm toán. Dinh gié két quả các công trình nghiên cứu khoa học “Thông qua những bải vi nghiên cứu trên, có thể thấy các tác giả đã: ~ Đưa ra những cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn cũng như phân tích cụ thể từng vấn đề liên quan đến công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. - Các nghiên cứu đều tìm ra được những hạn chế chưa hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và nguyên nhân của những bắt cập đó, - Các nghiên cứu đã gợi mở được một số quan điểm và định hướng công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và đều thống nhất hoàn thiện công.
tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn này là can thiết. Bởi đối với doanh nghiệp, kế hoạch hóa là khâu đầu tiên, bộ phận quan trọng. 10 của công tác quản lý. Hoạt động này giúp doanh nghiệp hoạch định các mục tiêu hoạt động, dự báo các khá năng và nguồn lực, xác định và đánh giá các phương án hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu sản xuất kinh doanh.
Thực tế cho thấy cùng. với quá trình hội nhập, môi trường kinh doanh ngày càng trở nên biến động và mang tính cạnh tranh cao, đề phát triển bền vững và đạt được tối đa mục tiêu đã đề ra trong phạm vi nguồn lực hữu hạn đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch kinh doanh cụ thể. Việc lập các mục đích, quyết định các mục tiêu của công ty, huy động các nguồn lực thực hiện và xác định cách đánh giá việc thực hiện mục tiêu đó. giúp công ty tân dụng các cơ hội để tăng khả năng thành công và dự phòng các rủi to có thể xây ra 1.
Các vấn đề còn tồn tại và đỉnh hướng nghiên cứu của luận văn. Do những hạn chế nhất định về thời gian hoặc do giới hạn đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu khác nhau nên với đề tài nghiên cứu về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, các tác giả chủ yếu đề cập tới lĩnh vực. kinh doanh sản xuất hoặc ở một phạm vi khác mà chưa có đề tài nào được thực hiện nghiên cứu về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm của một công ty sản xuất mặt hàng Bulong, Ốc Vít cụ thể tại công ty TNHH sản xuất Phúc Lâm. Vì vậy, từ những giá trị tham khảo có được ở các công trình nghiên cứu trên, tùng với thực tế công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh tại công ty TNHH sản xuất Phúc.
Lâm là những cở sở quan trọng giúp tác giả thực hiện nghiên cứu để tài này và mong muốn làm rõ những vấn để còn thiếu sót và tìm giải pháp góp phần hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm tại công ty TNHH sản xuất Phúc. Lâm Để giải quyết toàn diện, thấu đáo những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, tác giá đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau: 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh. của doanh nghiệp.
Công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp gồm những nội dung cơ bản gì? 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng "1 năm của doanh nghiệp?. Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm tại công ty TNHH sản xuất Phúc Lâm? Những ưu điểm và hạn chế nảo trong công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm tại công ty TNHH sản xuất Phúc Lâm thời gian qua? Nguyên nhân của những hạn chế đó? 5. Quan điểm định hướng công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm.
tại công ty TNHH sản xuất Phúc Lâm trong thời gian tới như thế nào? 6. Để hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm tại công. ty TNHH sản xuất Phúc Lâm cần có những giải pháp gi? 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KÉ HOẠCH KINH DOANH HÀNG NĂM CỦA DOANH NGHIỆP. Kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
Khải niệm Theo giáo trình Quản trị kinh doanh tập II của Đại học Kinh tế quốc dân: Kể hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguân lực, ấn định những mục tiêu cụ thẻ và xác định biện pháp tốt nhất. để thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra Như vậy, nội dung của bản kế hoạchhàm chứa tông thể các mục tiêu cũng như các giải pháp cơ bản đảm bảo việc thực hiện hóa mục tiêu. Kế hoạch là tên gọi chung cho một tập hợp các hoạt động có tính chất định hướng. Kế hoạch bao gồm.
việc lựa chọn một đường lối hành động mà một công ty hoặc cơ sở nào đó, và mọi bộ phận của nó sẽ tuân theo. Kế hoạch có nghĩa là xác định trước phải làm gì, làm như thế nào, vào khi nào và ai sẽ làm. Việc làm kế hoạch là bắc một nhịp cầu từ. trạng thái hiện tại của ta tới chỗ mà chúng ta muốn có trong tương lai.
Kế hoạch là một phương pháp/cách thức được chuẩn bị sẵn sàng để hoàn thành mục tiêu. Hay nói một cách cụ thể hơn, kế hoạch là dự định của nhà quản trị cho công việc trơng hi của tổ chức về mục tiêu, nôi dung, phương thúc quản và các nguồn lực được chương trình hóa. Từ định nghĩa này có thể thấy nội dung co bản của kể hoạch bao gồm: ~ __ Xác định mục tiêu (làm gì~ What) ~ __ Trả lờirõ nơi thực hiện (Ai làm ~ Who) ~ __ Lựa chọn phương thức (Làm nhu thé nao? — How) ~_ Thời gian (Khi nào lam? — When) - _ Địa điểm (Làm ở đâu?~ Where) Kế hoạch có thê là các chương trình hành động hoặc bắt kỳ danh sách, sơ đỏ, bảng biểu được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, chia thành các giai đoạn, các bước thời gian thực hiện, có phân bổ nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và "1 xác định biện pháp, sự chuẩn bị, triển khai thực hiện nhằm đạt được một mục tiêu, chỉ tiêu đã được đẻ ra. Thông thường kế hoạch được hiểu như là một khoảng thời gian cho những dự định sẽ hành động và thông qua đó ta hy vọng sẽ đạt được mục tiêu.
Kế hoạch có thể được thực hiện một cách chính thức hoặc không chính thức, bằng văn bản, văn kiện hoặc bất thành văn, công khai minh bạch hoặc bí mật (đối với các kế hoạch tác chiến, tình báo, chính trị, đối ngoại hay tội phạm, gây án, hãm hai, trả thù hoặc một phần trong kế hoạch kinh doanh, làm ăn, tài chính. Kế hoạch chính thức được phỏ biến và áp dụng cho nhiều người, có nhiều khả năng xảy ra trong các dự án ví dụ như ngoại giao, công tác, phát triển kinh tế, các kế hoạch về thé thao, trò chơi, hoặc trong việc tiến hành kinh doanh khác. Hoạch định kế hoạch hay lập kế hoạch hoặc kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương.
lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra. Cho đến nay thì có rat nhiều khái niệm về chức năng lập kế hoạch. Với mỗi quan điểm, mỗi cách tiếp cận khác nhau đều có khái niệm riêng nhưng tắt cả đều cố gang biêu hiện đúng bảnchất của phạm trù quản lý nay. Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì: Láp kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ thẻ mà các nhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ.
Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo. và kiểm tra. Lập kế hoạch có thể ví như là bắt đầu từ rễ ái của một cây sồi lớn, rồi từ đó mọc lên các nhánh tổ chức, lĩnh đạo và kiểm tra. Xét theo quan điểm này thì lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yêú đối với mỗi nhà quản lý.