CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CƠ BẢN VE QUAN LÝ VON TÍN DUNG DAU TƯ CUA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò von tín dung đầu tư của Nhà nước. Một số khái niệm cơ bản. Tín dụng, tín dụng nhà nước.
- Tín dụng: Theo giáo trình quản trị và kinh doanh ngân hàng “ Tín dụng là sự chuyên nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu nó sang người sử dụng nó, sau một thời gian nhất định được quay về với người sở hữu nó với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu (bao gồm cả gốc và lãi)” (Học viện Ngân hàng, 2013). Sản xuất kinh doanh hàng hoá ra đời kéo theo sự tất yếu phải ra đời của hoạt động tín dụng đề phục vụ; đến lượt nó, hoạt động tín dụng sẽ tác động ngược trở lại, thúc đây sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, cứ như thế tạo ra mối quan hệ biện chứng cùng thúc đây nhau phát trién. Trong thực tế không thể có nền kinh tế phát triển mà ở đó tồn tại một hệ thống tín dụng đơn điệu, yếu kém và ngược lại. Tín dụng bao gồm các quá trình hoạt động tạo vốn, hoạt động cho vay và hoạt động thanh toán dưới các loại hình tín dụng khác nhau; Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng quốc tế.
Ngoài ra, tín dụng còn có vai trò đặc biệt quan trọng, đó là vai trò tập trung vốn, phân phối vốn, là đòn bây, khuyến khích và điều tiết quá trình sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng một số chính sách và chế tài tín dụng như chính sách ưu đãi về mức vốn, thời gian cho vay, lãi suât cho vay. Người quản lý điêu hành vĩ mô có thê mở rộng sản xuất vùng này, ngành này hoặc thu hẹp sản xuất ngành khác, vùng khác thông qua công cụ tín dụng. - Tin dụng nhà nước: Theo Luận án tiễn sĩ Tín dụng Nhà nước đối với phát triển các tinh Tây nguyên “Tin dụng Nha nước là quan hệ tin dụng giữa Nhà nước với các tô chức, cá nhân và doanh nghiệp trong đó Nhà nước với vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách, phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng từng thời ky và là công cụ quan trọng dé quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô” (Vũ Mạnh Bảo, 2011, trang 18). Khái niệm trên đã làm rõ những vấn đề: Thứ nhất: TDNN là một quan hệ tín dụng bởi vì nó là một loại hình tín dụng như đã trình bày phần trên nên nó mang đầy đủ đặc trưng của tín dụng và cũng có những đặc thù riêng có.
Thứ hai: Về chủ thể trong quan hệ gồm nhà nước với các tổ chức, dân chúng và doanh nghiệp, trong đó nhà nước vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. - Với tư cách là người đi vay: Nhà nước sử dụng công cụ nợ như công trái, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình do các định chế tài chính đại diện Nhà nước phát hành. Tuỳ theo mục đích sử dụng và tính chất thiếu hụt nguồn vốn mà Nhà nước phát hành các công cụ nợ khác nhau, thông thường là; Tín phiếu, Trái phiếu. Ngoài ra, còn có các hình thức vay mượn khác thông qua khế ước nhận nợ hoặc các hợp đồng vay, hiệp định vay có phạm vi phát hành trong và ngoài nước, đôi tượng vay là các cá nhân, DN và các tô chức kinh tê.
- Với tư cách là người cho vay: Nhà nước cho vay các cá nhân, doanh nghiệp và các tô chức kinh tế tham gia đầu tư, sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng khuyến khích phát triển. Cũng như các loại tín dụng khác, người di vay cũng phải thực hiện nguyên tắc tín dụng là hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, tuy nhiên lãi cho vay là lãi suất ưu đãi, thường thấp hơn so với lãi suất thị trường. Thứ ba: khái niệm đề cập đến vai trò mang tính đặc thù của TDNN, nó là công cụ quan trọng điều tiết các ngành kinh tế, các vùng miền thông qua việc hỗ trợ đầu tư với lãi suất và điều kiện tín dụng ưu đãi vào các ngành, vùng kém phát triển, các ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án thời hạn thu hồi vốn đài, rủi ro cao. mà các tô chức tin dụng thương mại khó có thé đáp ứng.
Tin dụng dau tư của Nhà nước. Tín dụng đầu tư của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng để tài trợ các dự án đầu tư phát triển thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, khu vực Nhà nước cần khuyên khích dau tư. Hoạt động quản lý vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được thực hiện thông qua hệ thong Ngan hàng phat triển va việc tô chức triển khai công tác tín dụng đầu tư của Nha nước. Nguồn vốn tín dụng đầu tư là một kênh vốn quan trọng của vốn Nhà nước đáp ứng cho đầu tư phát triển ngoài các kênh vốn khác như vốn ngân sách, vốn trái phiếu chính phủ.
Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước có những đặc điểm khác biệt so với vốn tín dụng thương mại, được thực hiện bởi những chính sách riêng về huy động vốn, phương thức tô chức thực hiện, đối tượng được sử dụng, cách thức hỗ trợ.vv Trên thực tế, tín dụng đầu tư của Nhà nước ra đời đã đáp ứng được mục dich của Nhà nước chuyền từ bao cấp vốn sang hỗ trợ dưới dạng cho vay có hoàn trả. Ưu điểm của hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là các hoạt động đầu tư được sử dụng nguồn vốn Nhà nước dé tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử dụng. Nhờ đó tín dụng đầu tư của Nhà nước không chỉ góp phan tập trung được các nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn của Nhà nước. Thông qua tín dụng đầu tư, Nhà nước có thê mở rộng và chủ động trong việc giải quyết các mục tiêu dài hạn.
Do tín dụng đầu tư của Nhà nước là một hình thức tín dụng đặc biệt, ở đó thước đo hiệu quả không phải là lợi nhuận cá biệt, mà là hiệu quả kinh tẾ, xã hội, chính trị, phát triển bền vững. Thông thường khi xem xét hiệu quả của tín dụng đầu tư của Nhà nước người ta phải trả lời các câu hỏi sau: - Tính vĩ mô: tín dụng đầu tư của Nhà nước ảnh hưởng như thế nào đến các lĩnh vực then chốt, đến ngành, vùng, hay khu vực. của nền kinh tế quốc gia? - Tính vi mô: tin dụng dau tư của Nhà nước giúp các chủ thé kinh tế, các nhóm dân cư cải thiện chất lượng hoạt động như thế nào? Tính vi mô còn thể hiện ở hiệu quả hoạt động của các tô chức quan lý và thực thi tín dung đầu tư của Nhà nước. - Tính xã hội: tín dụng ĐTPT của Nhà nước hỗ trợ như thế nào các lĩnh vực mả tín dụng thương mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thé không giải quyết được (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tư không được đảm bảo, hoặc qui mô nguôn vốn quá lớn, hay thời gian thu hồi vốn đầu tư quá dai) nhưng có vai trò quan trọng đối với xã hội và đất nước như giải quyết việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, phát triển bền vững, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế VÙng,.
- Tính chính trị: tín dụng đầu tư của Nhà nước hỗ trợ thực thi các chương trình của Nha nước như thế nao và đặc biệt là góp phan ra sao trong củng có đồng thuận, công bằng xã hội, củng cé lòng tin của dân chúng vao Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, ở các nước đang phát triển, khi thị trường vốn còn chưa hoàn thiện, việc huy động được đủ vốn dài hạn dé tài trợ cho các dự án phát triển là điều không hề đơn giản. Do vậy, tín dụng đầu tư của Nhà nước còn phải hỗ trợ thị trường thông qua bảo lãnh cho các chủ thể vay vốn. Quy mô tín dụng đầu tư của Nhà nước phụ thuộc vào sức mạnh tài chính Nhà nước.
Đối với các Nhà nước đang chịu gánh nặng thâm hụt ngân sách thì quy mô tín dụng đầu tư của Nhà nước khá hạn hẹp. Quản lý vốn tín dụng dau tư của Nhà nước. - Khái niệm quản lý: Theo giáo trình Khoa học quản lý “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” (Nguyễn Hồng Sơn — Phan Huy Đường, 2013, trang 17). - Quản lý vốn tín dung đầu tư của Nhà nước tai Chi nhánh ngân hàng phat triển cấp Tỉnh: Là các hoạt động của Chi nhánh ngân hàng phát triển cấp Tỉnh thực hiện theo quy trình quản lý đối với vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước nham đảm bảo nguồn vốn tín dụng đầu tư được sử dụng có hiệu quả, đảm bảo khả năng thu nợ (gốc + lãi), góp phần thúc đầy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ Chính phủ giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Các hình thức tín dụng đầu tư của Nhà nước. Tín dụng đầu tư của Nhà nước bao gồm các hình thức: cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng tư, hỗ trợ sau đầu tư. Cho vay đầu tư. Cho vay đầu tư là việc Ngân hàng Phát triển cho các chủ đầu tư vay vôn tín dụng đâu tư của Nhà nước đê thực hiện các dự án đâu tư phát triên.
Cho vay đầu tư với tư cách tin dung đầu tư của Nhà nước có các tính chất sau: - Việc cho vay đầu tư được thực hiện theo trình tự các bước gồm: tiếp nhận và thầm định (bao gồm thâm định năng lực chủ đầu tư và thầm định dự an) - Quyét dinh cho vay - Giai ngân va giám sát tín dung - Thu hồi nợ/xử lý rủi ro. - Nguồn vốn dé cho vay đầu tư bao gồm: + Nguồn vốn do NSNN cấp cho tô chức thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư của Nhà nước. + Nguồn vốn huy động: phát hành trái phiếu phiếu chính phủ bảo lãnh, huy động tiền gửi, von vay các tô chức, cá nhân.vv + Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật: nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi.