CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm và phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương 1. Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương * Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (2005), vốn “là toàn bộ những yếu tố được sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải”.
Vốn mang nhiều hình thái khác nhau như vốn hiện vật, vốn tiền tệ, vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn con người. Trong luận văn này, vốn được đề cập dưới hình thái tiền tệ với tư cách giá trị của các tài sản hình thành từ hoạt động đầu tư. Theo Đỗ Hoàng Toàn ( 2013): “Đầu tư xây dựng là quá trình bỏ vốn nhằm tạo ra các tài sản vật chất dưới dạng các công trình xây dựng”. Tài sản vật chất có thể là các nhà máy, xí nghiệp, công trình xây dựng khác làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội, tăng năng lực phục vụ của các tài sản vật chất cũ như: nhà máy, đường xá, bệnh viện, trường học…được cải tạo, mở rộng.
“Vốn đầu tư xây dựng cơ bản” là một thuật ngữ kinh tế được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ những năm 1990 trở lại đây. Thuật ngữ này được dùng gắn với hoạt động đầu tư của các cơ quan nhà nước bằng cách sử dụng NSNN để xây dựng các công trình. Vốn đầu tư xây dựng cơ bảnlà một bộ phận của vốn đầu tư phát triển. Tóm lại, có thể hiểu: “ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để xây dựng các công trình theo quy hoạch, kế hoạch nhằm đạt được mục đích mong muốn”.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bảnđược phân bổ cho các hoạt động sau: chi 10 phí khảo sát, thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác trong tổng dự toán. *Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương: Từ khái niệm ở trên về vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung có thể đưa ra định nghĩa như sau: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương là toàn bộ những chi phí thuộc NSNN do ngành kinh tế địa phương huy động được hoặc do Nhà nước đầu tư nhằm phát triển ngành kinh tế địa phương. Nó cũng bao gồm các chi phí đối với việc khảo sát, thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác trong tổng dự toán. Theo Đặng Văn Thanh (2016) : “Nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau (nhà nước, doanh nghiệp, dân cư,.) và được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau.” Riêng vốn đầu tư xây dựng của nhà nước gồm có: Vốn NSNN, vốn của doanh nghiệp nhà nước và vốn tín dụng đầu tư xây dựng của nhà nước.
Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương là khá lớn và có mục đích hỗ trợ nguồn lực cho các công trình giao thông có nguồn gốc từ NSNN gọi là vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương, và là đối tượng nghiên cứu của luận văn này. Theo tác giả luận văn, vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương được định nghĩa là vốn đầu tư được Nhà nước bỏ ra để phục vụ nhiệm vụ phát triển và duy trì hoạt động của một ngành kinh tế trên một địa phương cụ thể. Tùy theo từng ngành kinh tế khác nhau, cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương.2 Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước cho ngành kinh tế địa phương Có nhiều cách phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương. Phù hợp với đề tài là cách phân loại theo nguồn vốn và đơn vị quản lý.
Theo đó vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm: 11 - Vốn đầu tư XDCB của ngành kinh tế địa phương do Trung ương (TW) quản lí (từ nguồn ngân sách TW): “Đó là phần vốn được giao cho các Bộ, ngành ở TW để thực hiện các hoạt động đầu tư XDCB theo ngành, lĩnh vực mình quản lí. Đối tượng đầu tư là những dự án (DA), công trình lớn, có tác động lớn tới toàn bộ nền kinh tế trong toàn ngành, yêu cầu quản lí phức tạp.” - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương (ĐP) do ĐP quản lí (NSĐP): “Là vốn đầu tư xây dựng dùng để đầu tư cho các DA thuộc quyền quản lí của ĐP. Vốn này không chỉ là vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách ĐP mà còn bao gồm cả vốn đầu tư xây dựng do TW hỗ trợ cho ĐP thông qua các nguồn hỗ trợ cân đối, hỗ trợ đầu tư XDCB” có mục tiêu…”. Vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương * Vai trò “đối với toàn bộ nền kinh tế: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương là bộ phận đầu tiên chiếm tỉ trọng khá lớn trong toàn bộ chi tiêu đầu tư của Chính phủ.
Nhờ nguồn vốn này Chính phủ có thể tác động vào tổng cung thông qua việc trực tiếp tăng năng lực sản xuất của các tổ chức kinh tế, hoặc gián tiếp qua việc nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống kết cấu hạ tầng. * Vai trò đối với ngành kinh tế: Vốn đầu tư XDCB của ngành kinh tế địa phương là một trong những nguồn vốn lớn góp phần hình thành đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ duy trì sự hoạt động và phát triển của ngành kinh tế của địa phương, qua đó tạo điều kiện ban đầu thuận lợi cho đầu tư tư nhân phát triển. * Vai trò đối với địa phương: Vốn đầu tư XDCB của ngành kinh tế địa phương góp “phần hoàn thiện và thức đẩy hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế của địa phương, qua đó tạo điều kiện cho địa phương tham gia vào thị trường quốc gia, quốc tế, khuyến khích phát triển giao lưu hàng hóa, dịch vụ, khuyến khích kinh tế thị trường phát triển, giúp các địa phương phát triển kinh tế hiệu quả để thực hiện xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách với các địa phương khác trong cả nước. Khái niệm và đặc điểm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương 1.
Khái niệm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương Theo Đỗ Hoàng Toàn (2008), Giáo trình "Quản lý nhà nước về kinh tế", Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương hay còn gọi là quản lý vốn đầu tư XDCB là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB một cách cao nhất trong điều kiện cụ thể xác định” Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử dụng các phương pháp và công cụ chuyên ngành để tác động đến quá trình vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo các khoản vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện theo đúng chế độ chính sách đã được Nhà nước quy định nhằm phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Theo đó, có thể hiểu: Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động quản lý trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu vốn của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ đầu tư XDCB của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội. Để quản lý hiệu quả cần phải có cơ chế quản lý phù hợp. Một cơ chế quản lý thông thường bao gồm những quy định về nội dung, trình tự công việc cần làm; tổ chức bộ máy để thực thi công việc và những quy định về trách nhiệm khi thực hiện các quy định đó.
Theo cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản được phân quyền cho hai cơ quan quản lý chính là cơ quan tài chính công và kho bạc Nhà nước. Cơ quan tài chính có nhiệm vụ quản lý quá trình phân bổ vôn theo đúng mục đích và chế độ đã được nhà nước quy định. Kho bạc Nhà nước giám sát quá trình sử dụng thực tế vốn nhằm bảo vệ việc sử dụng vốn theo đúng chế độ hiện hành. 13 Từ khái niệm ở trên về vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung có thể đưa ra định nghĩa như sau: Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương là sự tác động có mục đích của chính quyền địa phương và thủ trưởng quản lý ngành kinh tế địa phương trong việc sử dụng vốn đầu tư XDCB nhằm phục vụ cho việc phát triển ngành kinh tế tại địa phương một cách cao nhất trong điều kiện cụ thể xác định.
Đặc điểm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngành kinh tế địa phương Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định. Thứ hai, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, chẳng hạn: giá cả, lạm phát, lãi suất… Thứ ba, sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình.