CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN ODA TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng đối với nguồn vốn ODA tại ngân hàng phát triển 1. Khái quát về Ngân hàng phát triển 1. Khái niệm về Ngân hàng phát triển Theo Akrani (2002), ngân hàng phát triển được khái niệm như sau: - Ngân hàng phát triển là tổ chức tài chính cung cấp các khoản vay tài chính trung – dài hạn trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp cho cả khu vực tư nhân và tổ chức công.
- Ngân hàng phát triển là các tổ chức tài chính đa năng với các hoạt động cho vay trung – dài hạn, đầu tư vào chứng khoán và các hoạt động khác. Ngoài ra, NHPT còn khuyến khích tiết kiệm và thói quen đầu tư của cộng đồng. Mục đích của NHPT là để đưa đất nước đến một mức độ phát triển cao hơn. NHPT giúp bổ sung vốn dài hạn cho thị trường vốn chưa thực sự phát triển mà trong đó NHTM không cung cấp nguồn vốn dài hạn.
Ngân hàng phát triển thường thuộc sở hữu nhà nước, với vốn góp chính và quan trọng nhất của Chính phủ mỗi quốc gia. Hình thức góp vốn có thể là vốn chủ sở hữu, cổ phần hoặc vốn vay. Ở Châu Á và Thái Bình Dương, khoảng 9/10 NHPT được sở hữu bởi Chính phủ. Từ những năm 1950 được khuyến khích bởi Ngân hàng Quốc tế tái thiết và phát triển (thường được gọi là Ngân hàng Thế giới), số lượng NHPT của các nước đã tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn này, ở nhiều nước trên thế giới, các tổ chức phát triển tài chính cũng được thành lập và cũng được gọi là Ngân hàng phát triển. Một số NHPT lớn trong khu vực bao gồm: NHPT Liên bang Mỹ được thành lập năm 1959; NHPT Châu Á bắt đầu hoạt động vào năm 1966 và NHPT Châu Phi được thành lập năm 1964, Ngân hàng 6 Quốc tế về hợp tác kinh tế được thành lập vào năm 1963 với Liên Xô, Bulgaria, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania là thành viên. Cuba và Việt Nam cũng gia nhập sau đó. Mục đích nhằm tài trợ cho hoạt động thương mại giữa các thành viên.
Các quốc gia này cũng là thành viên của Ngân hàng đầu tư quốc tế, được thành lập vào năm 1970 với mục đích cho vay phát triển kinh tế. Đặc điểm khác biệt giữa NHPT và ngân hàng thương mại Theo ADFIAP (2009) sự khác biệt giữa phát triển và ngân hàng thương mại thể hiện trong các đặc điểm sau: - Động lực thúc đẩy sự hình thành: Ngân hàng phát triển được hình thành nhu một công cụ phát triển kinh tế trong khi một ngân hàng thương mại được hình thành từ các cơ hội kinh doanh. - Các loại dự án đuợc hỗ trợ: Đối với một ngân hàng phát triển, mục tiêu chủ yếu nhằm hỗ trợ các dự án để phát triển kinh tế với các mong muốn các dự án sau khi hoàn thành sẽ đạt được các kết quả như: thay thế hàng nhập khẩu; tăng xuất khẩu; nhu cầu trong nước tăng; phát triển khu vực (ví dụ như du lịch, nông nghiệp,.); và tăng hiệu quả công nghiệp thông qua đổi mới công nghệ sản xuất. Đối với một ngân hàng thuơng mại, các mục tiêu nêu trên không phải là điểm khởi đầu cho việc cho vay các dự án.
Thay vào đó, các ngân hàng này chú trọng những dự án có khả năng mang lại lợi nhuận. - Mục tiêu chiến lược: Ngân hàng phát triển có mục tiêu chiến luợc khó khăn hơn bởi vì nó có liên quan với những mối quan tâm của đất nước, đặc biệt là phát triển kinh tế. Ngoài ra, sau khi cung cấp tài chính cho các dự án, các ngân hàng này còn quan tâm tới phát triển doanh nghiệp. Trong khi mối quan tâm chính của ngân hàng thuơng mại là để tạo ra lợi nhuận, rất ít khi các ngân hàng này quan tâm tới các mục tiêu khác.
- Tiêu chuẩn tài chính: Ngân hàng phát triển tự nhận lấy rủi ro của dự án và không yêu cầu quá nhiều tài sản thế chấp, nó sẽ cung cấp vốn miễn là 7 các tiêu chí khác đuợc đáp ứng. Ngân hàng thuơng mại khá chú ý đến yêu cầu thế chấp tài sản. - Đánh giá đề xuất cho vay: Ngân hàng phát triển sử dụng thẩm định dự án nhu một phương tiện để xác định tính khả thi của các dự án. Thẩm định dự án xem xét các yếu tố kỹ thuật, tài chính, tiếp thị, quản lý, các khía cạnh môi trường và kinh tế của dự án.
Khả năng trả nợ được dựa trên chính dòng tiền mà dự án tạo ra. Một ngân hàng thuơng mại sử dụng việc quản lý tài sản có rủi ro như một công cụ để đánh giá khách hàng vay. Nó tập trung vào 5 yếu tố: người đi vay, năng lực, vốn, tài sản thế chấp và điều kiện, việc căn cứ trả nợ dựa vào khả năng của người vay (thậm chí từ các nguồn khác ) hơn từ chính dự án đó. - Thời hạn của khoản vay: Một ngân hàng phát triển cung cấp chủ yếu là khoản vay trung - dài hạn (kỳ hạn trên một năm).
Nguợc lại, ngân hàng thuơng mại cung cấp các khoản vay chủ yếu là ngắn hạn (kỳ hạn dưới một năm). - Các nguồn quỹ cho vay: Ngân hàng phát triển phụ thuộc vào vốn ưu đãi của Chính phủ, nguồn vốn dài hạn, ví dụ như quỹ hưu trí, vốn ODA từ nước ngoài (song phương) hoặc từ các tổ chức tài chính đa phương như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á. - Phạm vi tổ chức: Ngân hàng phát triển về cơ bản là một tổ chức chuyên ngành nên việc phân nhánh và sản phẩm đuợc giới hạn, trong khi các ngân hàng thuơng mại có thể cung nhiều sản phẩm đa dạng và có thể mở thêm nhiều chi nhánh. Vai trò chính của ngân hàng phát triển Ngân hàng phát triển có ít nhất sáu vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một đất nuớc (ADFIAP, 2009): Thứ nhất, vai trò là nhà cung cấp vốn đầu tiên cho những lĩnh vực quan trọng trong tương lai nhu chuyển giao công nghệ, các ngành công nghiệp chiến luợc, các vấn đề môi trường.
8 Thứ hai, như một tổ chức tiên phong phát triển các phương pháp và các mô hình mới nhằm gia tăng nguồn vốn mở rộng đầu tu thông qua các dự án tài chính có cách thực hiện đặc trưng như các dự án xây dựng – vận hành và chuyển giao/cho thuê/sở hữu tài chính, trái phiếu, tài chính vi mô,. Thứ ba, như là một chất xúc tác, tham gia một vai chính trong việc tạo ra các gói tài chính mới với sự tham gia của các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính khác như cho vay hợp vốn đối với các dự án lớn, bảo lãnh tín dụng cho ngành công nghiệp mới thành lập. Thứ tư, Ngân hàng phát triển đóng vai trò tổ chức trung gian tài chính trong việc quản lý cho vay vốn ưu đãi của chính phủ, vốn ODA từ khu vực nước ngoài (song phương hoặc đa phương) và các tổ chức phi chính phủ khác đến các khu vực công trong xã hội. Thứ năm, như một người ủng hộ phát triển, coi chiến lược phát triển như là sứ mạng của mình, ngân hàng phát triển huy động nguồn lực trong nuớc, phát triển nông thôn, đổi mới đô thị.
Thứ sáu, là ngân hàng cuối cùng trong các ngân hàng, tức là nhà cung cấp tài chính cho các dự án mà không có tài chính khác tổ chức sẽ tài trợ, do đó thúc đẩy hoạt động kinh tế mới và sáng tạo, ví dụ như, tài trợ cho các nhà phát minh, hợp tác xã và các khoản đầu tư rủi ro cao. Vai trò của NHPT trong việc quản lý nguồn vốn tín dụng ODA Như đã đề cập trên đây nhiệm vụ quản lý nguồn vốn tín dụng ODA là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngân hàng phát triển. Trong phần trình bày này sẽ làm rõ thêm vai trò của ngân hàng phát triển trong việc quản lý nguồn vốn tín dụng uu đãi này. Hình dưới đây cho thấy vai trò của các tổ chức liên quan trong quá trình quản lý nguồn vốn tín dụng ODA: 9 Hình 1.
Các kênh hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Nguồn: Mekong Institute,2016) Hình 1.1 mô tả các kênh mà qua đó vốn ODA từ nhà tài trợ các nước đến người nhận tiếp nhận nguồn tài trợ. Phần lớn các luồng viện trợ được tài trợ từ các nguồn lực công, tức là tiền của chính phủ huy động từ việc nộp thuế bởi các công dân trong nước nhà tài trợ. Chính phủ chịu trách nhiệm đối với những cử tri này trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA. Vốn ODA được tài trợ cho cả khu vực tư và khu vực công.
Đối với khu vực công, nguồn vốn ODA được chuyển cho chính phủ các nước tiếp nhận thông qua các cơ quan chuyên quản như Ngân hàng Phát triển, Quỹ Liên hiệp quốc/ Chương trình/ Cơ quan chuyên ngành; các Tổ chức phi chính phủ. Trong khi đối với khu vực tư nhân, vốn ODA cũng được chuyển qua các kênh như Quỹ Liên hiệp quốc/ Chương trình/ Cơ quan chuyên ngành; các Tổ chức phi chính phủ; ngoài ra còn có Tổ chức do khu vực tư góp vốn. Như vậy Ngân hàng phát triển các nước đóng vai trò trung gian tài chính từ trong việc quản lý nguồn vốn Tín dụng ODA tài trợ cho khu vực công là những chương trình dự án của các cơ quan, đơn vị có vốn góp của nhà nước làm chủ đầu tư (Mekong Institute, 2016). 10 Theo thống kê của OECD (2011), việc phân phối viện trợ từ các nguồn vẫn tương đối ổn định từ những năm 1990.
Trong đó, khoảng 40% vốn đầu tư vào khu vực công sẽ được chuyển qua các Ngân hàng Phát triển các nước quản lý; đây là dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng của Ngân hàng Phát triển trong việc quản lý nguồn vốn tín dụng ODA so với các tổ chức khác. Ngoài ra đối với nước nhà tài trợ, Ngân hàng phát triển cũng đóng vai trò quan trọng khi là tổ chức quản lý trực tiếp nguồn vốn ODA cho vay ưu đãi này. Ví dụ như Nhật Bản là nước cung cấp nhiều Viện trợ phát triển chính thức (ODA) nhất trên thế giới. Chính sách ODA của Nhật Bản chủ yếu được thực hiện thông qua 2 tổ chức là Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Cơ quan hợp tác và phát triển Nhật Bản (JICA).