CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận thu được của các DN (Luật thuế TNDN Việt Nam) [5,tr20] Đối tượng chịu thuế TNDN là thu nhập của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu sau khi trừ đi các chi phí có liên quan đến việc hình thành doanh thu đó. Đặc điểm: - Là sắc thuế trực thu, tiền thuế được tính dựa trên thu nhập của chính người nộp thuế, người nộp thuế cũng là người chịu thuế.
- Là sắc thuế đảm bảo tính công bằng. - Là sắc thuế góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, đảm bảo an ninh xã hội. Thuế TNDN có tính tương đối ổn định, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư, cơ sở kinh doanh có thể xây dựng được các chiến lược phát triển một cách vững chắc, để từ đó phát triển hoạt động kinh doanh, tăng thu nhập và góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước. [8,tr24] - Thuế TNDN đánh vào phần thu nhập chịu thuế của người nộp thuế, nên mức thu ngân sách Nhà nước chịu tác động trực tiếp từ kết quả hoạt động kinh doanh của người nộp thuế.
Vai trò: - Thuế TNDN là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Nhà nước ban hành những quy định về thuế suất hay ưu đãi miễn giảm có tác động tích cực đến môi trường đầu tư, doanh nghiệp phát triển cả về số lượng lẫn quy mô và hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng phát triển của nền kinh tế. Điều này tạo khả năng để tăng được số thu thuế. - Là công cụ hết sức quan trọng trong phân phối lại thu nhập, giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.
Việc áp dụng các mức thuế suất ưu đãi theo ngành 5 nghề và địa bàn được Nhà nước khuyến khích là điểm đặc biệt của sắc thuế này. Hơn nữa, thuế TNDN còn qui định các chính sách miễn giảm thuế TNDN cho các cơ sở mới thành lập hoặc sử dụng thu nhập sau thuế để tái đầu tư. Chính sách ưu đãi thông qua thuế TNDN góp phần định hướng cho đầu tư, để từ đó có tác động đến việc phân bổ các nguồn lực kinh tế nói chung, góp phần chuyển dịch lại cơ cấu nền kinh tế theo ngành, vùng, lãnh thổ nói riêng. - Thuế TNDN là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích đầu tư.“Thuế TNDN được xây dựng trong bối cảnh khuyến khích đầu tư, cải cách và hội nhập kinh tế, nên yêu cầu quan trọng hàng đầu là thuế TNDN phải có tác dụng như một đòn bẩy, kích thích kinh tế phát triển.
Hiện nay, thuế TNDN được ban hành áp dụng chung cho các cơ sở kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức đầu tư nên đã tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, đặc biệt mức thuế được điều chỉnh theo hướng ngày càng giảm nhằm khuyến khích đầu tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập và tạo thêm tiềm lực tài chính để các doanh nghiệp đang hoạt động đổi mới thiết bị, bổ sung vốn đầu tư phát triển kinh doanh. Nội dung cơ bản về thuế TNDN Theo quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ban hành ngày 03/06/2008 của Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 3 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 và Luật số 32/2013/QH13 của Quốc hội khóa XIII ban hành ngày 19/06/2013 thì nội dung của TNDN được quy định khá rõ ràng. Quy định về NNT TNDN là tổ chức hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Quy định về thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác.
Quy định về doanh thu khi tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà DN được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền… Như vậy, bất cứ sự thay đổi nào của thuế TNDN cũng sẽ làm ảnh hưởng đến thu nhập của DN. Thu nhập thay đổi đã ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng, điều này điều tiết hành vi trong tiêu dùng xã hội, do vậy gián tiếp đã tác động tới thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế TTĐB, thuế xuất 6 nhập khẩu. Sự tương quan tác động giữa các loại thuế còn được thể hiện khi nguồn thu nhập của các cá nhân bị điều tiết bởi một phần sắc thuế TNCN thì đã ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu tiêu dùng, và gián tiếp ảnh hưởng trở lại tới cung hàng hóa của DN, doanh thu thay đổi tất yếu sẽ dẫn tới số thu của thuế TNDN có những biến đổi nhất định. Theo đó, để xác định được thu nhập chịu thuế TNDN trong kỳ tính thuế thì xác định yếu tố chi phí hợp lý, hợp lệ là vô cùng quan trọng.
Cấu thành nên chi phí trong kỳ bao gồm cả các loại thuế gián thu khác như thuế XNK, thuế TTĐB… Tuy mục đích ra đời và đối tượng chịu sự điều tiết của mỗi sắc thuế là khác nhau nhưng mọi sắc thuế đều có những mối tương quan nhất định, tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ. Sự tác động này diễn ra đa chiều và vận hành liên tục tạo nên sự gắn bó giữa các loại thuế, hình thành hệ thống thuế thống nhất. Từ đó, đặt ra các yêu cầu cho các nhà hoạch định chính sách cần thực hiện nghiên cứu đầy đủ mối tương quan giữa các loại thuế để tạo ra một động lực tốt, tăng cường hiệu quả quản lý thu từ thuế và thực hiện đạt được mục tiêu tạo ra sự công bằng trong xã hội. Ngoài ra, các chính sách thuế đưa ra cần lưu ý đến khả năng vừa phải nuôi dưỡng nguồn thu, vừa phải tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1. Khái niệm FDI và vai trò của FDI 1. Khái niệm FDI Trên thế giới có nhiều khái niệm về doanh nghiệp FDI xuất phát từ nhiều quan điểm khác nhau. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”.
Mục đích chính của nhà đầu tư trực tiếp là tạo ra nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý các doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.[6,tr3] 7 Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 2005 có nêu khái niệm “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì một tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” [6,tr3], mà trong đó, nhà đầu tư nước ngoài ở đây được hiểu là tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) có đưa ra định nghĩa về FDI: “Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Song, không phải quốc gia nào cũng đều sử dụng mốc 10% làm mức xác định FDI.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những loại hình vốn lưu động quốc tế quan trọng và là một bộ phận quan trọng của toàn cầu hoá kinh tế. Đây là một cơ chế mà một công ty có trụ sở tại một nước đầu tư vào một công ty có trụ sở tại nước khác. Đặc điểm điển hình của FDI là cho phép chủ sở hữu kiểm soát một phần và ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định ở nước đầu tư trực tiếp (Moosa, 2002). Theo ấn bản thứ năm của Balance of Payment Manual (BPM), các nhà đầu tư nước ngoài phải sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở lên.
Họ sở hữu đầy đủ quyền biểu quyết của mình, một cam kết đầu thời gian dài ở nước sở tại (IMF, 1993). Tuy nhiên, một số nước không hoàn toàn tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế này. Mặc dù không được khuyến cáo bởi BPM, các quốc gia đôi khi có biện pháp riêng của họ. Mặc dù quyền sở hữu ít hơn 10% cổ phần nhưng vẫn có quyền biểu quyết hiệu quả trong việc quản lý, đã được đăng ký tại các nước như Bỉ, Mexico, Na Uy và Bồ Đào Nha và ngược lại quyền sở hữu hơn 10% nhưng có thể không có một tiếng nói hiệu quả trong việc quản lý như ở Hàn Quốc và Hà Lan (Foreign Direct Investment Statistics, 2003).
Đây là những yếu tố chính phân biệt FDI với các loại dòng vốn khác như đầu tư danh mục đầu tư nước ngoài 8 (FPI) và cho vay. Trong khi FPI chỉ là một giao dịch tài chính của chứng khoán của nước này sang nước khác, FDI thường bao gồm chuyển giao của các yếu tố được kết nối với nhau về vốn như quản lý, công nghệ và bí quyết. Vai trò của FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đảm nhận vai trò như động lực tăng trưởng kinh tế ở nhiều nền kinh tế, đặc biệt ở các nền kinh tế đang phát triển. Thuế là một nhân tố quyết định khi quyết định đầu tư.
Tuy nhiên, dòng vốn FDI không chỉ bị thu hút bởi các yếu tố thuế mà còn bởi một số yếu tố khác như ổn định kinh tế vĩ mô, khung pháp lý và luật pháp để hỗ trợ tốt cơ cấu lao động có tay nghề và thị trường lao động linh hoạt, nguồn tài nguyên sẵn có. Mức độ cởi mở, sự tăng trưởng về quy mô thị trường, sức mua của các thị trường địa phương; Các yếu tố về thể chế, thương mại và địa điểm. Dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại cho Việt Nam một số lợi ích, đặc biệt là mức độ phát triển công nghệ, cơ sở hạ tầng, tăng trưởng kinh tế, nguồn lực con người, kinh tế và xã hội. Thực tế cho thấy rằng, tăng trưởng kinh tế có gắn với tỷ lệ đầu tư.
Vốn trong nước và vốn ngoài nước là 2 nguồn huy động chủ yếu của vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Vốn trong nước hình thành thông qua hình thức tiết kiệm và đầu tư.