Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý thuế đối với nhà thầu nước ngoài. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với nhà thầu nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế đối với nhà thầu nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1.
Tổng quan chung về thuế đối với nhà thầu nước ngoài 1. Khái niệm a) Nhà thầu nước ngoài Quá trình toàn cầu hóa là đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư của các quốc gia tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng phạm vi kinh doanh của mình. Khi các nhà đầu tư nước ngoài xuất hiện, thì kéo theo đó là các tổ chức, cá nhân cũng xuất hiện để cung cấp các hàng hóa, dịch vụ mà nước sở tại chưa có hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư; hoặc các nhà đầu tư trong nước nhập khẩu máy móc thiết bị, hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Các nhà thầu khi đến nước sở tại sẽ phát sinh các khoản thu nhập nhận được trên cơ sở các thỏa thuận, hợp đồng với các nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong nước, vì vậy các nhà quản lý phải đưa các chính sách nhằm thu được thuế từ các khoản thu nhập đó và đảm bảo công bằng với các nhà thầu trong nước.
Từ đó, thuế nhà thầu xuất hiện nhằm quản lý các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài và góp phần tăng thu cho NSNN. Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng thì NTNN được hiểu là: Nhà thầu nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự; đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và thực hiện hợp đồng. Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của NTNN được xác định theo pháp luật của nước mà nhà thầu có quốc tịch. NTNN có thể là tổng thầu, nhà thầu chính, nhà thầu liên danh, nhà thầu phụ.
8 e Theo Hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam tại Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 6/8/2014 của Bộ Tài chính quy định đối tượng áp dụng: Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (như là NTNN, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa NTNN với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa NTNN với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu. Như vậy, NTNN là các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh hoặc có phát sinh thu nhập tại nước sở tại trên cơ sở thỏa thuận hoặc hợp đồng giữa họ với tổ chức hoặc cá nhân nước đó và có thu nhập phát sinh. Và khi thỏa thuận hoặc hợp đồng chấm dứt thì vai trò của nhà thầu tại nước đó cũng chấm dứt theo. b) Thuế đối với nhà thầu nước ngoài Thuế đối với NTNN không phải là một sắc thuế cụ thể như các sắc thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế tài nguyên… mà bao gồm nhiều sắc thuế để áp dụng cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài có phát sinh thu nhập từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một nước trên cơ sở hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản giữa họ với tổ chức, cá nhân của nước đó mà không hình thành nên một pháp nhân tại nước có thu nhập phát sinh.
Trong các quy định về thuế của các nước, thuế NTNN thường được gọi là FCT (Foreign Contractor Tax) hay FCWT (Foreign Contractor Withholding Tax) hay còn được gọi là thuế khấu trừ tại nguồn (withholding tax), do cách thu chủ yếu là được bên ký hợp đồng khấu trừ tiền thuế phải nộp của NTNN trước khi trả tiền cho nhà thầu. Ví dụ Luật thuế Malaysia định nghĩa như sau: “Thuế 9 e NTNN là một khoản tiền được bên chi trả khấu trừ lại đối với thu nhập của người được trả tiền không cư trú và nộp cho Cục thu nội địa Malaysia. Bên trả tiền là cá nhân/tổ chức hoạt động kinh doanh tại Malaysia. Bên trả tiền phải giữ lại thuế NTNN đối với các khoản chi trả cho dịch vụ, tư vấn kỹ thuật, tiền thuê hoặc các khoản chi trả khác thực hiện dưới bất kỳ hình thức thỏa thuận nào đối với việc sử dụng bất kỳ động sản nào trả cho người nhận tiền không cư trú.
Người nhận tiền là cá nhân hoặc tổ chức không cư trú tại Malaysia nhận các khoản chi trả trên”. Theo Luật Quản lý thuế của Australia năm 2012, (Taxaton Administration Amendment Regulations 2012) Thuế NTNN được định nghĩa là loại thuế đánh trên thu nhập (lãi vay, cổ tức, tiền bản quyền và các khoản thanh toán thuế) được quy định tại nguồn của người cư trú ngoài nước đó. Như vậy, thuế NTNN thuộc loại thuế thu theo đối tượng, mà đối tượng đây là các NTNN. Vai trò của nhà thầu nước ngoài và thuế đối với Nhà thầu nước ngoài a) Vai trò của nhà thầu nước ngoài Trong khi khả năng của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, chủ yếu sử dụng công nghệ lạc hậu thì việc chủ đầu tư ký hợp đồng với các NTNN để cung cấp các hàng hóa, dịch vụ, công nghệ, vốn… là hết sức cần thiết để đảm bảo tiến độ; các NTNN sẽ đem đến những dây chuyền công nghệ mới, kỹ thuật mới sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp mà các nhà đầu tư thực hiện dự án.
Đặc biệt đối với các dự án xây dựng nhà máy hiện đại, tiên tiến, có công nghệ cao hoặc các công trình trọng điểm thì vai trò của các NTNN hết sức quan trọng. NTNN có vai trò quan trọng trong đổi mới công nghệ trong nhiều ngành, lĩnh vực. Ngoài ra, NTNN có vai trò góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý của nước sở tại. Ví dụ, với những nước đang trong quá trình phát triển như nước ta các NTNN sẽ là môi trường đào tạo cán bộ quản 10 e lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng cao của công nghệ, kỹ thuật; của công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, của quá trình toàn cầu hóa thì lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường thực tiễn để làm quen, thực tập và học tập để không ngừng nâng cao trình độ của mình.
Từ đó góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động và sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao. b) Vai trò của thuế nhà thầu nước ngoài Thứ nhất, huy động nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của các NTNN: Khi NTNN thực hiện hoạt động kinh doanh tại một nước, đồng thời xuất hiện nghĩa vụ phải nộp thuế của họ tại nước đó. Các nước đều có những quy định về việc quản lý và thu thuế đối với các hoạt động kinh doanh của NTNN tại nước mình. Đối với các nước phát triển, số thuế thu từ hoạt động của các NTNN không lớn, do các lý do sau: - Các nước phát triển đã đạt tới trình độ cao trong tất cả các lĩnh vực, khả năng của các doanh nghiệp trong nước đã đáp ứng được các nhu cầu về xây dựng, cung cấp máy móc thiết bị, dịch vụ…; - Có trình độ về khoa học và công nghệ cao, ít phải nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài, do vậy ít xuất hiện thuế NTNN đối với tiền bản quyền; - Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp và trong nước đủ để đáp ứng được nhu cầu đầu tư, do vậy ít xuất hiện thuế NTNN đối với lãi vay… Ngược lại với các nước phát triển, đối với các nước đang trong quá trình phát triển như nước ta thì số thuế thu được từ các NTNN lại đóng góp một phần khá quan trọng trong tổng số thu của NSNN, bởi các lý do sau: - Các nước đang phát triển cần một nguồn vốn rất lớn trong quá trình đầu tư của mình, do vậy cần vay từ các nguồn bên ngoài (ngân hàng nước ngoài), làm xuất hiện thuế NTNN đối với lãi vay; - Trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, cần nhập khẩu khoa học công nghệ, do vậy xuất hiện thuế NTNN đối với tiền bản quyền; 11 e - Khả năng của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, do vậy cần các NTNN cung cấp nhiều dịch vụ, hàng hóa trong nước chưa sản xuất được, đặc biệt đối với việc xây dựng các nhà máy, công trình quy mô lớn.
Từ đó xuất hiện thuế NTNN trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa dịch vụ, xây dựng… Thứ hai, Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước: - Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, các nước thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI, FII… các công ty nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không hình thành pháp nhân đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng về nhiều lĩnh vực, trong đó có thuế. - Chính sách thuế đối với NTNN cũng dựa trên một mặt bằng chung như đối với các doanh nghiệp trong nước, tạo ra một môi trường bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Thứ ba, Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển KT-XH. Thuế đối với các NTNN, cũng như các loại thuế thu khác, có vai trò điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các NTNN, xây dựng quy định quản lý hoạt động của các NTNN, định hướng phát triển nền kinh tế.
Bên cạnh vai trò chung của thuế, thuế đối với NTNN còn có vai trò riêng, thể hiện ở các điểm sau: - Điều chỉnh hoạt động của NTNN theo hướng: tạo điều kiện thuận lợi cho NTNN hoạt động, tuy nhiên vẫn đảm bảo cho các doanh nghiệp trong nước hoạt động và phát triển tốt.