phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục, phần kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu thuế giá tri gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. e 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Những vấn đề lý luận chung về thuế giá trị gia tăng 1. Lý luận chung về thuế 1. Khái niệm Cho đến nay, vẫn chƣa có một khái niệm nào trên thế giới thống nhất về thuế. Đứng ở những góc độ khác nhau của các nhà kinh tế khác nhau lại có một khái niệm khác nhau về thuế.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nƣớc”. Và còn một khái niệm khác về thuế “Thuế là một khoản phí tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho ngƣời nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau”. Với góc độ phân phối thu nhập thuế lại có khái niệm: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc”.[31] Với góc độ ngƣời nộp thuế thì thuế lại có khái niệm: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho e 9 nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc”.[31] Và theo từ điển tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nƣớc theo mức quy định”.[31] Nhƣ vậy ta có thể định nghĩa: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân hoặc pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Đặc điểm Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể đƣa ra khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình về thuế.
Tuy nhiên, thuế bao giờ cũng mang những đặc tính nhất định. Việc xác định đặc tính của thuế giúp cho chúng ta nhận diện thuế trong các hình thức thu nhập tài chính. Và đã chỉ ra đƣợc thuế có 3 đặc điểm cơ bản sau: - Tính bắt buộc: Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ ngƣời này sang ngƣời kia, khi những khoản chuyển giao khác là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc, Chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp luật để ban hành các sắc thuế, vì vậy thuế thƣờng đƣợc ban hành dƣới dạng văn bản luật hay pháp luật. Tính chất cƣỡng bức bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau: + Hình thức chuyển giao thu nhập dƣới dạng thuế không gắn với lợi ích cụ thể của ngƣời nộp thuế.
+ Trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên trong cộng đồng về hàng hoá công cộng ngày càng tăng mà phần lớn hàng hoá này lại do Nhà nƣớc cung cấp. Nhƣ vậy: Mọi chủ thể trong nền kinh tế phải nộp thuế một cách vô điều kiện, không thƣơng lƣợng khi đã có luật hƣớng dẫn. e 10 - Tính không bồi hoàn, không mang tính hoàn trả trực tiếp: Tính không hoàn trả trực tiếp ở chỗ thuế đƣợc hoàn trả gián tiếp cho ngƣời nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc. - Tính pháp lý cao: Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính chất pháp lý cao đƣợc quyết định ở quyền lực chính trị của Nhà nƣớc là một tổ chức chính trị đại diện cho quyền lợi của một giai cấp thống trị thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội.
Vì vậy, để bắt buộc các công dân tự nguyện nộp thuế Nhà nƣớc phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy đƣợc thể hiện bằng luật pháp, các thể nhân và pháp nhân chỉ phải nộp cho nhà nƣớc các khoản thuế đã đƣợc pháp luật quy định. Vai trò của thuế Hiện nay, vai trò của thuế đã đƣợc nhìn nhận một cách đầy đủ thể hiện ở các khía cạnh sau: * Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nƣớc, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc thể hiện ở phạm vi thu thuế rất rộng, đối tƣợng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn thu nhập phải nộp thuế. Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Đồng thời hệ thống thuế đƣợc quy định dƣới hình thức pháp luật.
* Thuế là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô phù hợp với sự phát triển kinh tế của từng thời kỳ Nhà nƣớc có khả năng sử dụng chính sách thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Điều đó xuất phát từ chức năng điều chỉnh của thuế. Vì lợi ích xã hội Nhà nƣớc có thể tăng thuế hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cƣ và với doanh nghiệp, để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế: Khi kinh tế rơi vào khủng e 11 hoảng hoặc suy thoái Nhà nƣớc có thể hạ thấp mức thuế để kích thích tiêu dùng, tăng đầu tƣ mở rộng sản xuất, ngƣợc lại khi kinh tế phát triển quá mức Nhà nƣớc tăng thuế thu hẹp đầu tƣ. Ngoài ra thuế đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ sản xuất trong nƣớc, thúc đẩy sự hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới thông qua thuế xuất nhập khẩu.
* Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối Thuế đã tham gia trực tiếp vào phân phối thu nhập xã hội từ kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Khi các tổ chức, cá nhân có điều kiện kinh doanh và có thu nhập giống nhau đều phải nộp thuế nhƣ nhau (bình đẳng theo chiều ngang), ngƣời có thu nhập quá thấp không đủ đảm bảo đời sống thì không phải nộp thuế (bình đẳng theo chiều dọc). Thuế còn thực hiện vai trò phân phối lại thu nhập xã hội thông qua việc nhà nƣớc sử dụng tiền thuế đã nộp vào Ngân sách để chi tiêu cho các hoạt động chức năng, sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ công cộng, để trợ cấp nhằm phục vụ lợi ích của toàn xã hội. * Thuế là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh Thông qua khai báo thuế cuả các doanh nghiệp, cơ quan Thuế có thể kiểm tra, kiểm soát và năm đƣợc thực trạng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, phát hiện ra những vấn đề gian lận của các doanh nghiệp góp phần chấn chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lý luận cơ bản về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Theo tác giả Phan Thị Cúc, Trần Phƣớc, Nguyễn Thị Mỹ Linh (2000), trong cuốn giáo trình “Những vấn đề về thuế”, NXB Hà Nội: Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch e 12 vụ phát sinh trong quá trình từ khâu sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng [6,tr. Tại điểm 2, chƣơng 1, Luật thuế Giá trị gia tăng (đƣợc Quốc hội thông qua ngày 03/6/2008) giải thích rằng: Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ quá trình sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng [19]. Sự cần thiết phải áp dụng thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có những ƣu điểm nổi bật có thể khắc phục những khó khăn khi thực hiện luật thuế cũ.
[3] Một là, thuế GTGT có thể khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là không thu trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ. Bên cạnh đó, việc thực hiện thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp còn đòi hỏi các doanh nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cƣờng công tác quản lý nhƣ: ghi chép ban đầu, mở sổ sách kế toán và mua, bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lƣợng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới. Hai là, thuế GTGT sẽ khuyến khích đầu tƣ trong nƣớc, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu tƣ tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ đƣợc Nhà nƣớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp.
Đồng thời trong quá trình thực hiện, Chính phủ còn có những biện pháp khuyến khích thêm nhƣ đối với những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao. Ba là, thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển SXKD hàng hoá xuất khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khẩu đƣợc hƣởng thuế suất 0% và đƣợc hoàn thuế GTGT đầu vào nên đã e 13 khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá tƣơng tự của các nƣớc trên thị trƣờng quốc tế. Bốn là, việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nƣớc.
Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu dùng cao cấp từ nƣớc ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất.