phần mở đầu và kết luận đƣợc bố cục gồm bốn chƣơng, cụ thể nhƣ sau : Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính của các trƣờng đại học công lập. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động quản lý tài chính tại trƣờng Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại trƣờng Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.
3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài về quản lý tài chính trong các trường công lập Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài về quản lý tài chính của các trƣờng đại học theo hai hƣớng rất rõ ràng là: học thuật và tác nghiệp. Nghiên cứu theo hƣớng học thuật thì chủ yếu nghiên cứu tài chính công, các nghiên cứu theo hƣớng tác nghiệp thƣờng nghiên cứu về quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu tài chính đối với một đơn vị.
Những nghiên cứu về tài chính công đƣợc khởi nguồn từ nƣớc ngoài và nó đƣợc nhiều học giả công bố. Alan (1979), năm 1979 đã tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn”. Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công đƣợc tác giả nghiên cứu chi tiết. Trong cuốn sách này tác giả cũng đã nêu một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở nƣớc Anh lồng ghép vào nội dung lý thuyết.
Cuốn sách của tác giả Holley (2007) cũng mang tên “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” đƣợc tái bản lần thứ hai, tác giả đã đƣa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ. Trong những nghiên cứu về tài chính công, khi đƣa ra vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đƣa vấn đề GDCL và tài chính cho GDCL. Tuy nhiên việc phân tích nhƣ vậy chỉ mang tính chất minh họa cho lý thuyết về tài chính công. Hƣớng nghiên cứu tác nghiệp hơn - quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục.
Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài khá rộng và sâu theo hƣớng này, tác giả của những công trình nghiên cứu này bao gồm những tổ chức và cá nhân. Các nƣớc Mỹ, Anh, Úc, Canada có mô hình giáo dục công khá độc lập 4 z giữa các bang hay các vùng. Một số công trình nghiên cứu về quản lý và kiểm soát tài chính đối với giáo dục đại học của Molcolm Prowle và Eric Morgan (2005). Sách nghiên cứu những điểm tƣơng đồng và khác biệt về các điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội, môi trƣờng gắn với vấn đề quản lý tài chính tại cơ sở giáo dục.
Các nƣớc nghiên cứu bao gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam. Công trình nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ của nhà nƣớc trong việc gia tăng năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học quốc gia trong bối cảnh mới. Đồng tác giả Marianne, C. và Lesley, A (2000) tập trung phân tích một số nội dung chủ yếu sau: quan niệm về nguồn lực giáo dục, các phƣơng thức quản lý nguồn lực.
Bài báo cũng đi sâu phân tích thực trạng quản lý các nguồn lực giáo dục đại học, nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực tài chính, các loại hình hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, những yếu tố cản trở việc mở các khu trƣờng học (campus) nƣớc ngoài tại nƣớc sở tại, nghiên cứu so sánh các chính sách hiện hành và các chính sách khuyến nghị cũng nhƣ những điều cần làm để cải thiện tình hình quản lý tài chính trong giáo dục đại học. Các nghiên cứu trong nước về quản lý tài chính trong các trường công lập Cải cách GDĐH đang rất là cấp bách, cải cách đại học đƣợc Đảng, Nhà nƣớc có chủ trƣơng rõ ràng, nhất quán. Tuy nhiên, cho tới nay những cải cách thực sự, đặc biệt là các cải cách về cơ chế tài chính vẫn còn nhiều hạn chế trong việc triển khai: Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 15/5/2010 về việc cải cách thu học phí đại học cho giai đoạn 2010 - 2015, nhƣng việc cải cách này còn rất hạn chế và bất cập: Các ngành đào tạo bậc đại học chỉ đƣợc phân loại thành 3 nhóm ngành và áp dụng cùng một mức trần học phí cho tất cả các ngành trong cùng một nhóm ngành. 5 z Trong những năm gần đây mỗi năm Việt Nam đầu tƣ gần 20% ngân sách cho giáo dục, nhƣng việc phân bổ ngân sách giáo dục nói chung và ngân sách giáo dục đại học nói riêng còn rất bất hợp lý, dẫn tới hiệu quả thấp: Phân bổ ngân sách hàng năm cho các cơ sở đào tạo đại học dựa trên dữ liệu về phân bổ ngân sách của năm trƣớc, thƣờng tăng hàng năm từ 5% - 10%.
Cách phân bổ đồng đều này không tạo động lực cho các trƣờng trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo, hoặc đào tạo các ngành nghề xã hội cần nhƣng chi phí đào tạo cao. Nhƣ vậy rất cần phải nghiên cứu một chính sách phân bổ ngân sách nhà nƣớc một cách hợp lý và khoa học hơn, nhằm nâng cao tối đa hiệu quả đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc cho giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng. Hiện nay các nhà quản lý giáo dục, xây dựng chính sách cho GDĐH rất nhấn mạnh việc tăng cƣờng tự chủ đại học, đặc biệt là tăng cƣờng tự chủ tài chính cho GDĐH để khắc phục những yếu kém của hệ thống giáo dục đại học hiện nay. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc về tài chính trong trƣờng ĐHCL là tài chính công, hẹp hơn đó là tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu.
Xét trên diện ngành là tài chính cho giáo dục và xét theo đơn vị thụ hƣởng là tài chính cho một đơn vị cụ thể. Trong đó có có nhiều nghiên cứu đề cập đến tài chính cho giáo dục khá phong phú, đa dạng. Tác giả Vĩnh Sang (2005) đã phân tích thực trạng về tính bị động và đề xuất các giải pháp tăng tính tự chủ động cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Nhóm tác giả Trần Minh Tá và Bạch Thị Minh Huyền (1996) phân tích khá đầy đủ, đề cập từ những quan điểm, cơ chế, chính sách đến các giải pháp tài chính quốc gia phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Tác giả Nguyễn Duy Tạo (2000) đã nghiên cứu khá hệ thống nội dung cơ chế quản lý tài chính đối với các trƣờng đào tạo công lập, từ quy trình lập dự toán đến phân bổ chi tiêu, cơ chế giám sát. Đặng Văn Du (2004) phân tích khá sâu sắc về đầu tƣ tài chính cho đào tạo đại học. Tác giả đã xây dựng các 6 z tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tƣ tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, qua đó phân tích thực trạng đầu tƣ tài chính và đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí đƣợc xây dựng. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005) cũng đã soạn một đề án về đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006- 2010, trong đó có đổi mới về cơ chế quản lý tài chính.
Nhƣng những đổi mới đó mới chỉ dừng lại ở tính chung chung cho các trƣờng, không đi sâu cụ thể từng trƣờng. Nhƣ vậy, các công trình nghiên cứu về tài chính cho giáo dục khá đồ sộ, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu vẫn mang tính bao quát cho một cấp giáo dục nhất định, chƣa đi sâu phân tích cụ thể từng đơn vị giáo dục. Nghiên cứu tài chính cho một đơn vị giáo dục ít thu hút đƣợc sự quan tâm nhất. Do phạm vi nghiên cứu nhỏ, mang tính đặc thù, có tính chất tác nghiệp tài chính của một đơn vị và do đối tƣợng độc giả của các công trình nghiên cứu này ít nên không khuyến khích các tác giả tập trung nghiên cứu.
Trong số ít các nghiên cứu loại này, Phan Thanh Vụ (2004) đánh giá tổng quan thực trạng để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính ở Đại học Thái Nguyên. Phạm Văn Ngọc (2006), “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn 2025”. Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Ngọc đã chỉ ra những cơ hội và thách thức trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội. Song, cơ chế đó là của Đại học Quốc gia Hà Nội, cơ quan quản lý các đơn vị đào tạo thành viên và trực thuộc, còn các trƣờng thành viên vẫn cần phải có những nghiên cứu đặc thù của mình.
Ở Trƣờng Đại học Giáo dục - ĐHQGHN quản lý tài chính chỉ đƣợc nêu ở một số báo cáo tại các hội nghị tổng kết, hội thảo về công tác quản lý cơ sở vật chất và đổi mới cơ chế tài chính ở cấp trƣờng, nhƣng vẫn chƣa có những báo cáo mang tính chất của một đề tài nghiên cứu, hoặc đƣa ra đƣợc những 7 z giải pháp quản lý tài chính nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo mang tính khoa học và duy trì bền vững chất lƣợng đào tạo của Trƣờng Đại học Giáo dục - ĐHQGHN. Đánh giá chung Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài đã cung cấp một khuôn khổ lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn khá phong phú về hoạt động quản lý tài chính của các trƣờng đại học trên thế giới. Tuy nhiên, đây là những mô hình của các nƣớc có nền kinh tế phát triển, lại đƣợc áp dụng ở những trƣờng đại học không giống với các trƣờng đại học của Việt Nam, vì vậy luận văn này sẽ đánh giá khả năng phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và với điều kiện của Trƣờng ĐHGD - ĐHQGHN. Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, có thể thấy nghiên cứu về tài chính cho giáo dục là một chủ đề thu hút đƣợc sự chú ý của giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý tài chính với tính đặc thù của Trƣờng Đại học Giáo dục - ĐHQGHN thì chƣa có một nghiên cứu nào đƣợc tiến hành một cách bài bản. Cơ sở lý luận về quản lý tài chính của các trƣờng đại học công lập 1.