mở đầu bằng việc xem xét và quyết định cho vay, sau đó là giải ngân (hay còn gọi là phát tiền vay), theo dõi nợ và kết thúc bằng việc thu hồi nợ gốc 10 và lãi. Chu kỳ cho vay dự án đầu tư cũng có thể diễn đạt bằng sơ đồ: T-T’. Có thể chi tiết quy trình cho vay như sau: Xét duyệt cho vay: Quá trình xét duyệt cho vay được thực hiện theo các bước: - Nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng - Thẩm định dự án xin vay - Xét duyệt và quyết định cho vay - Giải ngân: Quá trình giải ngân bao gồm: nhận và kiểm tra các căn cứ giải ngân; thực hiện giải ngân Kiểm tra quá trình sử dụng vốn và thu nợ: Quá trình này được thực hiện ngay sau khi phát tiền vay nhằm đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích và hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng thỏa thuận. Dựa trên đề xuất xin vay dự án đầu tư của khách hàng vay, NHTM phải xem xét trong một thời gian nhất định và đưa ra kết luận từ chối hay chấp nhận cho vay.
Đề xuất vay vốn dự án đầu tư được hợp thức hóa bằng các tài liệu như đơn xin vay, hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân và vốn điều lệ ban đầu, hồ sơ tình hình tài chính một số năm trước khi đề xuất xin vay, các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư xin vay (Luận chứng kinh tế kỹ thuật, bản phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cấp có thẩm quyền, các văn bản có liên quan đến cung ứng đầu tư thiết bị, nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, các giấy tờ pháp lý về tài sản thế chấp và cầm cố…) Việc chấp nhận hay từ chối cho vay một dự án đầu tư của khách hàng phải dựa vào kết quả thẩm tra các mặt như tư cách pháp nhân, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình công nợ, mức vốn tham gia của đơn vị vay vốn, đồng thời phải xem xét mục đích kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả vốn vay của dự án… Khi xem xét, thẩm định và đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay một dự án đầu tư của khách hàng, phải quán triệt các nguyên tắc: Phù hợp với 11 nguồn vốn của ngân hàng cho vay, nghĩa là không vượt quá khả năng nguồn vốn hiện có và sẽ huy động được khả thi dùng vào cho vay trung và dài hạn của bản thân ngân hàng cho vay; phù hợp với quyền phán quyết cho vay trung và dài hạn mà ngân hàng cấp trên giành cho giám đốc ngân hàng đó trong lĩnh vực cho vay trung và dài hạn, phù hợp với chính sách ưu tiên trong đầu tư và cơ cầu đầu tư đã được quy định. Trường hợp chấp nhận cho vay do kết quả TĐDA đầu tư xin vay, ngân hàng phải thông báo bằng văn bản trong thời hạn quy định để khách hàng vay kịp thời đến ngân hàng lập sơ nhận nợ. Trường hợp từ chối cho vay, ngân hàng phải thông báo và nêu rõ lý do cho khách hàng biết. Hồ sơ thụ lý cho vay dự án đầu tư của khách hàng chính là hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ngân hàng cho vay và khách hàng.
Trong hợp đồng này phải xác định rõ đối tượng vay, mức vay, thời hạn vay, lãi suất, kế hoạch trả nợ, đảm bảo tiền vay, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay… Dựa vào mức cho vay ghi trên hợp đồng tín đụng, ngân hàng cho vay tổ chức việc giải ngân, tức là phát tiền vay để khách hàng vay sử dụng tiền vay vào việc thực thi dự án đầu tư xin vay. Tiền cho vay được ngân hàng cho vay phát ra theo tiến độ thực hiện của dự án đầu tư xin vay, được phản ánh kịp thời và chính xác vào tài khoản cho vay vay, khế ước vay nợ và dựa trên những chứng từ hợp lệ. Ngân hàng cho vay theo dõi chặt chẽ tiến độ thực thi dự án đầu tư xin vay, cho đến khi dự án kết thúc và các công trình của dự án đưa vào hoạt động có hiệu quả, khách hàng vay trả xong nợ cho ngân hàng cho vay kể cả gốc và lãi. Thẩm định dự án đầu tư xin vay: Trong quy trình cho vay theo dự án, TĐDA là một mắt xích quan trọng.
Bản chất công việc này là dùng một số kỹ thuật phân tích, đánh giá toàn bộ các vấn đề, các phương tiện trình bày trong dự án theo một số tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật và theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ nhằm rút ra những kết luận chính xác về giá trị 12 của dự án, từ đó có quyết định cho vay đúng mức, chắc chắn mang lại hiệu quả kinh tế dự định. Đối với các NHTM, việc TĐDA đầu tư xin vay có thể dựa vào kết quả thẩm định dự án đầu tư của các tổ chức thẩm định độc lập chuyên nghiệp (có thể là tổ chức thuộc nhà nước hoặc tư nhân). Trong trường hợp này, ngân hàng phải có khả năng đánh giá chất lượng TĐDA được thực hiện bởi một tổ chức thẩm định nào đó. Trong trường hợp dự án đầu tư xin vay có quy mô vừa và nhỏ, thời hạn thu hồi vốn không quá năm năm, ngân hàng phải tự TĐDA đầu tư xin vay.
Dù tái thẩm định hay tự thẩm định thì ngân hàng đều cần có đội ngũ cán bộ đủ sức đánh giá dự án đầu tư xin vay và từ đó đưa ra kết luận chấp nhận hay từ chối tài trợ đối với dự án đầu tư xin vay. Muốn thẩm định hay tái thẩm định một dự án đầu tư xin vay có kết quả mong muốn phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu thập thông tin cần thiết cho việc đánh giá dự án đầu tư, xử lý thông tin bằng những phương pháp thẩm định nhất định và đi đến những kết luận cụ thể và xác đáng được ghi trong tờ trình TĐDA đầu tư. Xét về nội dung TĐDA, người ta thường thực hiện thẩm định ba mặt cơ bản là các phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế và phương diện tài chính. Thẩm định dự án đầu tư về mặt kỹ thuật là đi sâu vào nghiên cứu và phân tích các yếu tỗ kỹ thuật và công nghệ, thiết bị chủ yếu của dự án đầu tư để đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư khi thi công xây dựng cũng nhưng khi vận hành công trình hoàn thành.
Ở đây người ta chú ý đến sự phù hợp của quy mô dự án đầu tư với khả năng tiêu thụ sản phẩm, nguồn vật liệu, năng lực, năng lực quản lý của doanh nghiệp. Sự lựa chọn thiết bị và công nghệ của dự án đầu tư, sự cung ứng nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào; sự lựa chọn địa điểm xây dựng công trình, việc quản lý dự án từ khi thai nghén đến khi kết thúc đưa vào sử dụng. Thẩm định về mặt kinh tế xã hội của dự án đầu tư là xét đến lợi ích của dự án trên quan điểm vĩ mô. Nó thường được xem xét dựa trên một số chỉ số sinh lời xã 13 hội như mức đóng góp của dự án đầu tư cho nền kinh tế do tiết kiệm chi phí nhập khẩu của các sản phẩm nhập khẩu tương tự, chỉ số hoàn vốn, mức gia tăng việc làm, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước, mức tích lũy…Đồng thời ở đây người ta còn xem xét ảnh hưởng của dự án đầu tư đến môi trường, đến sinh hoạt văn hóa và đến sự phát triển kinh tế của địa phương.
Thẩm định phương diện tài chính của dự án là việc phân tích, đánh giá kết luận việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong tài trợ, khả năng sinh lời, khả năng hoàn trả nợ, khả năng ứng phó trước những thử thách trong quá trình đưa dự án đầu tư vào thực hiện. Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Sự cần thiết phải thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay của NHTM Như đã đề cập ở trên, TĐDA là một khâu rất quan trọng trong quá trình cho vay dự án đầu tư, nó giúp NHTM ra quyết định cho vay vào dự án nào đó hay không, mức cho vay, thời hạn cũng như phương thức tài trợ cho dự án đó…Như ta đã biết, một dự án đầu tư chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau như thị trường, công nghệ, kỹ thuật, tổ chức, tài chính…Hơn nữa các dự án đầu tư lại rất đa dạng, với nhiều phạm vi, lĩnh vực, quy mô khác nhau, mà NHTM trong điều kiện và khả năng có hạn, nên không thể thẩm định chi tiết hết tất cả các phương diện đó. Ngân hàng chủ yếu tập trung vào thẩm định phương diện tài chính, đây là mặt ngân hàng có thế mạnh về chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm.
Đối với NHTM, việc tài trợ cho dự án đầu tư là hoạt động có thể mạng lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng, tuy nhiên đồng nghĩa với nó là rủi ro. Chính vì vậy vấn đề mà ngân hàng quan tâm trong hoạt động cho vay là vốn vay có được đảm bảo sẽ thu được đầy đủ, đúng hạn hay không, và ngân hàng sẽ thu được những lợi ích gì từ hoạt động cho vay đó. Để có được câu trả lời chính xác thì ngân hàng phải thẩm định TCDA để tránh những tổn thất không đáng có, đồng thời không bỏ lỡ cơ hội về lợi nhuận. Việc thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay vay dự án sẽ giúp cho: 14 - Thông qua thẩm định với những kết quả thu được, ngân hàng có cơ sở tương đối chính xác để xác định được tính khả thi, hiệu quả của dự án, mà quan trọng hơn cả là xác định được khả năng trả nợ của doanh nghiệp để quyết định cho vay hay từ chối những dự án kém hiệu quả, không có khả năng hoàn trả.
- Ngân hàng dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra, ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện dự án như các yếu tố về sự biến động thị trường, nguyên liệu đầu vào, chi phí sản xuất, các yếu tố về môi trường, chính sách quản lý…Trên cơ sở này phát hiện và bổ sung thêm các biện pháp khắc phục hoặc hạn chế rủi ro, đồng thời tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước và chủ đầu tư từ đó nâng cao tính khả thi trong việc thực hiện dự án.