Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BẠO HÀNH HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý phòng chống bạo hành học sinh 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Theo Trung tâm Thống kê Quốc gia về Giáo dục Mỹ, bạo lực học đường là mộtvấn đề nghiêm trọng. Năm 2007, một cuộc điều tra toàn quốc được tiến hành hai nămmột lần bởi Trung tâm Ngăn chặn và Kiểm soát Dịch bệnh (CDC), kết quả cho thấy,có 5.9% học sinh mang theo một loại vũ khí (như súng, dao, vân vân) vào trường họctrong 30 ngày trước thời điểm điều tra.
Tỷ lệ này ở nam lớn gấp ba lần nữ. Nhữngnghiên cứu gần đây ở Mỹ cho thấy cứ 7 phút lại có một trẻ em bị bắt nạt. Cứ 4 trẻ lạicó một trẻ thừa nhận đã bị bắt nạt. Và cứ 5 trẻ, có một trẻ thừa nhận đã từng bắt nạtnhững trẻ khác.
Một cuộc thăm dò thực hiện ở trẻ có độ tuổi 12-17 cho kết quả các emđều thừa nhận bạo lực đang gia tăng ở trường học của mình. Mỗi tháng, có 282.000 học sinh ở các trường trung học cơ sở Mỹ bị tấn công (Nguyễn Văn Tường, 2016). Philip Rodkin và cộng sự (2000) đã nghiên cứu các học sinh nam từ lớp 4 đến lớp 6 và phát hiện ra rằng những cậu bé có tính gây hấn cao chiếm phần lớn trong giới học sinh và hầu hết đều là học sinh THCS. Tonja Nansel và cộng sự (2001) chỉ ra rằngtrong số hơn 15000 học sinh Mỹ từ lớp 6 đến lớp 10 có khoảng 17% học sinh cho biết các em thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bắt nạt trong cả năm học.
Gần 19% cho rằng các em thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bắt nạt các bạn khác và 6% nói rằng họvừa đi bắt nạt người khác vừa là nạn nhân của bắt nạt (Nguyễn Văn Tường, 2016). Đảng bảo thủ nước Anh (2007) công bố kết quả nghiên cứu của mình trong lúc lo ngại về nạn bạo lực học đường ở nước này đang tăng cao. Kết quả cho thấy, trung bìnhmột ngày các trường học ở Anh xảy ra khoảng 40 vụ gây gổ buộc cảnh sát phải can thiệp. Trong năm học 2007, cảnh sát buộc phải xuất hiện tại trường học hơn 7.
Nhưng thực tế trên toàn nước Anh, bạo lực học đường có thể lên đến 8 hơn 10.000 vụ, do khoảng 1/3 nhân viên cảnh sát quên nhập dữ liệu. Đây là dữ liệu trên được tổng hợp từ 25/39 đồn cảnh sát trung tâm của nước Anh (Ngọc Hải, 2008) Ở Pháp, Cécile Carra (2009) nghiên cứu trên 2000 học sinh từ 7-12 tuổi tại 31 trường học, cho thấy có hơn 40% học sinh khẳng định từng là nạn nhân của bạo lựchọc đường ít nhất một lần trong năm và 28% học sinh thừa nhận từng là “hung thủ”trong các vụ bạo lực học đường. Trước đó, năm 2000, nước Pháp đã xảy ra 75000 vụ bạo lực học đường, trong đó có 39 vụ bạo lực nghiêm trọng và 300 vụ bạo lực ở mức độ thấp hơn (Nguyễn Văn Tường, 2016). Ở Trung Quốc, trong “Báo cáo phân tích tổng thể tình hình những sự cố an toàn trường học ở học sinh trung học và tiểu học năm 2006” do Bộ giáo dục Trung Quốc công bố cho thấy, năm 2006 trong những sự cố an toàn được đưa lên báo, thì có đến 25% những vụ việc đó xảy ra trong trường học, chủ yếu là những vụ việc gây thương tích do đánh nhau (chiếm 56%), do dùng chất gây nổ, sử dụng dao, phóng hỏa, xâm hại tình dục… Ngoài ra, theo Trung tâm điều trị bệnh tật của thành phố Thẩm Quyến (2009), trong báo cáo “Nghiên cứu phòng chống thương tích trẻ em” gửi lên “Đại hội tuyên truyền phòng chống ngược đãi trẻ em trên toàn thế giới” cho thấy, trong vòng 1 năm, có 48.7% học sinh ở thành phố Thẩm Quyến cảm thấy không an toàn khi đến trường cũng như tan trường, có 15.8% học sinh đã từng đánh nhau, trong đó những vụviệc đánh nhau của học sinh THCS là nghiêm trọng nhất; có 49.7% học sinh cấp 2 không cảm thấy an toàn; có 21.8% học sinh đã từng đánh nhau (Chen Erping, 2009).
Tổ chức phát triển cộng đồng tập trung vào trẻ em Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữ (ICRW) vừa công bố báo cáo về tình trạng bạo lựctrong các trường học ở châu Á (2015). Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu và khảosát thực tế với 9.000 học sinh ở lứa tuổi từ 12-17, các giáo viên, hiệu trưởng, phụhuynh. tại 5 quốc gia (Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal), thựchiện từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2014. Theo báo cáo này, tình trạng bạo lực trongcác trường học châu Á đang ở mức báo động.
Trung bình cứ 10 học sinh thì có 7 emtừng trải nghiệm bạo lực học đường. Quốc gia có tỉ lệ học sinh hứng chịu nạn bạo lực cao nhất là Indonesia (84%); thấp nhất là Pakistan với 43%. Chỉ 9 tính trong 6 tháng(10/2013-3/2014), số học sinh bị bạo lực (ở mọi hình thức: tinh thần, thể xác.) tại trường học của Indonesia là 75%. Việt Nam đứng thứ hai với 71% (Nguyễn Văn Tường, 2016).
Năm 2018, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc công bố những con số báo động về thực trạng bạo lực học đường của học sinh trên toàn thế giới, theo đó: Trên toàn cầu, cứ 3 em học sinh trong độ tuổi 13-15 thì có hơn 1 em từng bị bắt nạt, và tỷ lệ học sinh tham gia đánh nhau cũng gần như vậy; Cứ 10 sinh viên tại 39 quốc gia công nghiệp thì có 3em thừa nhận đã từng bắt nạt bạn; Năm 2017, đã có 396 vụ tấn công tại trường họcđược ghi nhận hoặc được xác nhận ở Cộng hòa Dân chủ Công- gô, 26 vụ ở Nam Sudan, 67 vụ tại Cộng hòa Ả Rập Syria và 20 vụ tại Yemen; Gần 720 triệu trẻ em trong độtuổi đi học sống ở các quốc gia nơi mà trừng phạt thân thể trong nhà trường không bịcấm; Tuy trẻ em gái và bé trai có nguy cơ bị bắt nạt như nhau, nhưng các bé gái cónhiều khả năng trở thành nạn nhân của các hình thức bắt nạt tâm lý hơn còn các bé traicó nguy cơ bị bạo lực và đe dọa về thể chất. Nghiên cứu trong nước Hoàng Bá Thịnh và cộng sự (2009),đã tiến hành nghiên cứu về hành vi bạo lực của nữ sinh trung học, khảo sát 200 học sinh tại hai trường THPT thuộc Quận Đống Đa (Hà Nội). Kết quả cho thấy có đến 96.7% số học sinh được hỏi cho rằng ở trường các em học có xảy ra hiện tượng nữ sinh đánh nhau. Kết quả khảo sát cũng cho biết có tới 64% các em nữ thừa nhận từng có hành vi đánh nhau với các bạn khác.
Chương trình “Những cuộc đời trẻ thơ” (2013) đã công bố báo cáo “Bạo lực họcđường - Bằng chứng từ chương trình Những cuộc đời trẻ thơ”. Nghiên cứu này phân tích thực trạng các hình thức của hành vi bạo lực học đường ở trẻ em dưới 16 tuổi thông qua các bằng chứng định lượng và định tính, chủ yếu là so sánh giữa các nhómtuổi, giới tính, vùng miền, dân tộc, điều kiện kinh tế, tình trạng dinh dưỡng. Bên cạnhđó, nghiên cứu này cũng chỉ ra những căn cứ luật pháp của Chính phủ nhằm ngăn chặnhành vi bạo lực học đường ở học sinh (Nguyễn Văn Tường, 2016). Nguyễn Thị Thanh Bình và Nguyễn Thị Mai Lan (2013) nghiên cứu hành vi bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lí học.
Đây là một trong 10 số ít những nghiên cứu quy mô ở Việt Nam về hành vi bạo lực học đường, kết quả củanghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc hệ thống lại những cơ sở lí luận chặt chẽ về hành vi bạo lực học đường mà còn chỉ ra thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh, giáo viên và phụ huynh cũng như các nhà quản lý giáo dục đối với hành vi bạo lực học đường; Trần Công Thuận (2015), công bố kết quả nghiên cứu “Bạo lực học đường qua nghiên cứu và khảo sát” cho thấy trung bình trong số 10 học sinh, thì có tới 4 học sinh có những hành vi vi phạm liên quan đến bạo lực học đường. Nghiên cứu cũng tìm hiểu nhận thức của học sinh, phụ huynh và thầy cô về hành vi bạo lực học đường, phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp đối với bạo lực học đường. Trần Thị Minh Đức (2010), nghiên cứu thực trạng hành vi gây hấn của học sinh phổ thông trung học, tìm hiểu về nhận thức của học sinh THPT về hành vi gây hấn; Tạ Thị Ngọc Thanh (2010), phân tích về sự gia tăng hiện tượng nữ sinh đánh nhau thông qua việc giải thích tại sao nữ sinh lại đánh nhau và quay video tung lên internet; Trần Thị Tú Anh (2012), nghiên cứu thực trạng hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS tại thành phố Huế; Nguyễn Bá Đạt (2012) nghiên cứu thực trạng bạo lực học đường ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp; Nguyễn Thị Mai Hương (2013), chỉ ra nhu cầu tiếp nhận thông tin trong giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa của học sinh THCS có hành vi bạo lực học đường ở thị xã Phú Thọ. Nhìn chung, khi nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em, các công trình nghiên cứu chủ yếu đều tập trung phản ánh thực trạng diễn biến phức tạp của hành vi bạo lực học đường xảy ra ở học sinh, bạo lực học đường không chỉ xảy ra giữa học sinh nam với nhau mà còn xảy ra ở học sinh nữ với nhau, bạo lực học đường thường được diễn ra với hai hình thức phổ biến là bạo lực tinh thần và bạo lực thể chất, bạo lực học đường đã và đang ảnh hưởng đến học sinh trên toàn thế giới.
Tuy vậy, có rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến hành vi bạo hành học sinh trong mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh. Khái niệm cơ bản 1. Hoạt động phòng chống bạo hành học sinh 1. Bạo hành học sinh 11 Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về bạo hành học sinh mà thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy rằng khái niệm về bạo hành học sinh sẽ có những nét tương đồng lớn đối với khái niệm về bạo lực học đường (BLHĐ).
Cụ thể: Theo Furlong & Morrison (2000), đến năm 1992, khái niệm “BLHĐ” mới được sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ để mô tả những hành động bạo lực và căng thẳng trong trường học.