CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LÝ RUNG TRONG 1.1, NHONG VAN DE CHUNG VE QUAN LY RUNG TRONG 1. Một số khái niệm. Khéi nigm chung về rừng Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: “Rừng là một tong thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiêm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phân lớn bê mặt Trái Đắt và là một bộ phân của cảnh quan địa lý.
Teachenco phát biểu: *#ững là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gôm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây có. vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mồi quan hệ sinh hoc và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài ” Năm 1974, I. Mê lê khôp cho rằng: “Rừng là sự hình thành phức tap của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu ”.
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quản xã sinh vật phải có mỗi quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác (Nhóm 11 2015), ‘én nam 2004 Luật Bảo vệ và phát triển rừng có đưa ra định nghĩa về rừng như sau: “Kừng là một hệ sinh thái gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đắt rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phân chính có độ che phú của tán rừng từ 0. Rừng gồm rừng trằng và rừng tự nhiên trên đắt rừng sản xuất, đắt rừng phòng hộ, đắt rừng đặc dụng.
” 12 ‘Tuy nhiên định nghĩa này khó sử dụng vì nó không đưa ra các tiêu chí rõ ràng về rừng, chiều cao của cây rừng ở mức tối thiểu là 2 - Sm. Hon nia, với việc xác định diện tích đất có độ che phủ rừng từ 10% trở lên được coi là rừng thì các diện tích đất tống đồi núi trọc cây trồng phân tán hoặc không có rừng có thể được gọi là rừng. Với cách phân loại như vậy thì sẽ rất khó quản lý và bảo vệ rừng. Tiêu chuẩn quốc tế không yêu cầu các quốc gia phải sử dụng các tiêu chí xác định rừng ở mức thắp nhất về độ che phủ rừng 10% và chiều cao cây.
rừng từ 2m trở lên mà mỗi nước có thể áp dụng các tiêu chí phủ hợp nhất với quốc gia đó. Do vậy Việt Nam đưa ra định nghĩa về rừng là: “Rừng là một hệ sinh thải bao gâm quân thể thực vật, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đắt rừng và các yếu tổ môi trường khác, trong đó cân sửa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phẩn chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trằng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản. xuất, đắt rừng phòng hộ, đắt rừng đặc dụng".
Phan loại rừng được quy định như sau ~ Phân loại rừng theo mục đích sử dụng, + Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn. nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều. hoà khí hậu và bảo vệ môi trường + Rừng đặc dụng: là rừng được sử dụng chủ yếu đẻ bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng: nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường. + Rừng sản xuất: là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh 26, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường ~ Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành 13 + Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên + Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng, ~ Phân loại rừng theo điều kiện lập địa + Rừng núi đất: là rừng phát triển trên các đồi, núi đắt.
+ Rừng núi đá: là rừng phát triển trên núi đá, hoặc trên những diện tích đá lộ đầu không có hoặc có rất ít đắt trên bề mặt. + Rừng ngập nước: là rừng phát triển trên các diện tích thường xuyên. ngập nước hoặc định kỳ ngập nước. + Rừng trên đất cát: là rừng trên các côn cát, bãi cát.
~ Phân loại rừng theo loài cây + Rừng gỗ: là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ. + Rừng cây lá kim: là rừng có cây lá kim chiếm trên 75% số cây. + Rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim: là rừng có tỷ lệ hỗn giao theo số cây của mỗi loại từ 25% đến 75%. + Rừng tre nứa: là rừng chủ yếu gồm các loài cây thuộc họ tre nứa như: tre, mai, diễn, nứa, luỗng, vau, 16 6, le, may san, hóp, lùng, bương, giang, vv + Rừng cau dừa: là rừng có thành phần chính là các loại cau dừa.
+ Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa. - Phân loại rừng theo trữ lượng + Đối với rừng gỗ + Đối với rừng tre nứa: Rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ. Khái niệm rừng trồng. Rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng, rừng trồng lại sau khi khai thác rừng.
14 trồng đã có; rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác. Theo thời gian sinh trưởng rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng khoản thời gian quy định cấp tuổi khác nhau (bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn 2009). “Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quy chế quản lý rừng sản xuất ban hành kèm theo Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ thì khái niệm rừng sản xuất được quy định như sau: Rừng sản xuất là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh. gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường.
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng sản xuất được phân loại theo. các đối tượng sau: ~ Rừng sản xuất là rừng tự nhiên gồm có: Rừng tự nhiên và rừng được. phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; căn cứ vào. trừ lượng bình quân trên một hecta rừng tự nhiên được phân loại thành: Rừng, giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa có trữ lượng.
~ Rừng sản xuất là rừng trồng gồm có: Rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước, rừng trồng bằng vốn chủ rừng tự đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn. liên doanh, liên kết không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) hoặc có hỗ. trợ của nhà nước và các nguồn vốn khác. ~ Nguyên tắc xác định giá trị rừng trồng: + Việc xác định giá trị rừng trồng phải đảm bảo tính đúng, tính đủ các chỉ phí đầu tư và giá tị thu hồi trong tương lai trên cơ sở giá thị trường và các yếu tổ lợi thể sản xuất kinh doanh.
+ Xác định giá trị rừng trồng phủ hợp với diện tích, số lượng và chất lượng, sắt với giá thị trường tại thời điểm định giá. + Việc xác định giá trị rừng trồng phải bảo đảm hải hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp. 15 ~ Phân loại rừng trồng theo các thời kỳ: + Rừng đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản từ 3 năm tuổi trở xuống. + Rừng đang trong thời kỳ sinh trưởng phát triển là giai đoạn từ khi kết thúc giai đoạn kiến thiết cơ bản đến khi thành thục công nghệ.
+ Rừng trồng thành thục công nghệ: + Đối với rừng trồng các loài cây sinh trưởng nhanh như: bạch đản, keo, mỡ, bồ để, tràm và các loại cây sinh trưởng nhanh khác: từ 7 năm tuổi trở. lên + Đối với rừng trồng các loài cây sinh trưởng chậm như: thông, tếch, sao, dầu, gõ, muỗng, giáng hương và các loại cây sinh trưởng chậm khác từ 20 năm tuổi trở lên. © Khái niệm quản lý rừng. Khoa học về quản lý rừng đã được hình thành từ cuối thế kỷ thứ 18, đầu thé ky 19.
Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục; khi gỗ có giá trị thương mại trao đôi lớn. Chủ rừng muốn có nhiễu lãi suất bằng cách nâng cao năng suất, sản lượng gỗ trên một đơn vị diện tích; trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật tạo rừng, nuôi dưỡng, khai thác, thương mại din dẫn trở thành các môn khoa học được nghiên cứu áp dụng. Suốt thế kỷ XIX và gần hết thế kỷ XX, khoa học quản lý rừng luôn mục tiêu sản lượng ôn định, nghĩa là năm sau không ít hơn năm trước; từ đó các lý thuyết về điều chỉnh sản lượng theo diện tích, theo cấp năng suất 448 hàng năm có thu hoạch gỗ, thu nhập đồng đều đã được xây dựng, phát triển cho môn quản lý (Forest management). Nửa cuối của thế kỷ XX, trước sự.
phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, môi trường, con người chờ. đợi ở rừng nhiều hơn nữa các khả năng cung ứng không chỉ về gỗ, lâm sản ngoài gỗ mà còn các chức năng bảo vệ môi trường, như phòng hộ nguồn nước, chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục thẳm mỹ, môi 16 trường v. môn quản lý rừng đã giao thoa với nhiều môn khoa học khác và cũng do vậy đem nhiều tên khác nhau, như quản lý rừng, điều chế rừng, quy hoạch rừng, thiết kế kinh doanh rừng, kinh lý rừng , nhưng nội dung vẫn tương đồng, Việt Nam, sau khi đắt nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo ngành lâm nghiệp tăng cường nghiên cứu và áp dụng các thành tựu của khoa học quản lý rừng nhằm giữ vững sản lượng khai thác ồn định và không lạm dụng vào nguồn tài nguyên rừng. 'Khái niệm quản lý rừng được hiểu là chủ rừng hoặc người quản lý rừng tổ chức các hoạt động của một khu rừng xác định luôn thu được lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ tối đa mả không làm thay đổi diện tích, trữ lượng va năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dai của khu rừng.