phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác học sinh ở trường trung cấp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác học sinh ở Trường Trung cấp Trường Sơn, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác học sinh ở Trường Trung cấp Trường Sơn, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG CẤP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về công tác học sinh Quản lý CTHS là nội dung được các nhà giáo dục, các tổ chức, các trường học từ trước đến nay quan tâm và nghiên cứu. Năm 1997, Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế HSSV trong các trường đ i học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp [4] nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các trường trong việc tổ chức quản lý CTHS, HS. Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18 tháng 10 năm 2002, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký Quyết định số 41/2002/QĐ- BGDĐT về việc Sửa đổi bổ sung Quy chế Công tác học sinh [5].
Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước, quy chế về CTHS của Bộ GD&ĐT, ngày 13 tháng 8 năm 2007 Bộ GD&ĐT ra Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HS [7] và sau đó là các văn bản về việc thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đối với HS diện đối tượng chính sách, chế độ miễn giảm học phí. Ngày 26/7/2011 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký Thông tư số 27/2011/TT- BGDĐT về việc ban hành Quy chế công tác học sinh t i các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân [9]. Thông tư này có hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế cho hai quyết định. Quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công tác học sinh trong các trường đ i học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và d y nghề; Quyết định số 41/2002/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.
Ngày 28 tháng 12 năm 2016, Bộ LĐ,TB&XH ban hành Thông tư số 6 47/2016/TT-BLĐTBXH Quy định về Điều lệ trường trung cấp [10] và ngày 30/6/2017, Bộ LLĐ,TB&XH tiếp tục ra Thông tư số 17/2017/TT-BLĐTBXH về việc ban hành Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong trường trung cấp, trường cao đẳng [11]. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 8 năm 2017; bãi bỏ Quyết định số 26/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ LĐ,TB&XH ban hành Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường trung cấp, cao đẳng. Các nghiên cứu về quản lý công tác học sinh Vấn đề về quản lý CTHS cũng được nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, chủ yếu là các đề tài luận văn thạc sĩ ở các nhà trường cao đẳng, trung cấp trên cả nước. Chúng tôi nêu lên một số công trình tiêu biểu gần đây: Đề tài luận văn thạc sĩ: Biện pháp quản lý học viên ở trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng của Nguyễn Thị Xuân năm 2011 [29] đã đánh giá thực trạng công tác QLHS tại trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao công tác QLHS; Đề tài luận văn thạc sĩ: Biện pháp quản lý học sinh ở trường Cao đẳng sư ph m Yên Bái năm 2012 của Nguyễn Thanh Bình [3].
Tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý học sinh, sinh viên (HSSV) của trường Cao đẳng sư ph m Yên Bái và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý HSSV. Các nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLHS trên nhiều lĩnh vực của các nhà trường và đề xuất các biện pháp quản lý, góp phần vận dụng những hiểu biết về quản lý, QLGD vào công tác quản lý HSSV trong các trường trung cấp, cao đẳng để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo theo yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Công tác QLHS là một trong những nội dung quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Nhà trường muốn phát triển thì 7 trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người.
Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLHS. Song đó là những nghiên cứu cụ thể và áp dụng trong những môi trường cụ thể, từng nhà trường khác nhau; trong khi đó công tác QLHS lại phụ thuộc vào đặc thù của từng trường ở từng địa bàn. Trường Trung cấp Trường Sơn, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk từ khi thành lập đến nay cũng gặp phải một số vấn đề khó khăn trong công tác QLHS như các nhà trường khác nói chung; nhưng xuất phát từ đặc điểm riêng của trường nên không thể áp dụng mô hình công tác QLHS của các nhà trường khác. Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố, chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu đề tài: Quản lý công tác học sinh ở trường Trung cấp Trường Sơn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khái niệm quản lý được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được nhận thức ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung. Chính vì thế quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau, cụ thể có các cách tiếp cận sau. Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể. Từ việc 8 nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự.
Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống, cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định. Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người”.
Với học thuyết này giúp con người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: quản lý là tác động có định hư ng, có chủ đích của chủ th quản lý người quản lý đến khách th quản lý người bị quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đ t được mục đích của tổ chức [12]. Ngày nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra. thì Quản lý là ho t động có ý thức của con người nhằm định hư ng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người đ đ t được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
Bất cứ một xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lý, một nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia. Mỗi hệ quản lý bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau: Bộ phận quản lý 9 (giữ vai trò chủ thể quản lý) có chức năng điều khiển hệ quản lý, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra. Bộ phận bị quản lý (đối tượng quản lý - giữ vai trò khách thể quản lý) gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất. Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý. Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể hiểu: Quản lí là tác động có định hư ng có chủ định của chủ th quản lí đến khách th quả quản lí nhằm đưa hệ thống đ t đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một tr ng thái m i về chất. Quản lý giáo dục Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động, học tập và qua cuộc sống hàng ngày con người nhận thức thế giới xung quanh, tích luỹ được kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục.
QLGD là một bộ phận của quản lý nói chung, nhưng nó là một khoa học tương đối độc lập vì tính chất đặc thù của nền giáo dục quốc dân. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: QLGD được hi u là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế ho ch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ th quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống từ mức độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát tri n giáo dục đào t o mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục [21; tr.