CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LY DU TRU NGOẠI HOI 1. Téng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghién cwu ngoài nước Các nước trên thế giới thường có mô hình , cách thức, nguyên tắc quản lý DTNH riêng biệt, phù hợp với đặc điểm tình hình nền kinh tế. Tuy nhiên, đều căn bản dựa trên tài liệu “Hướng dẫn quản ly dự trữ ngoại hồi” và “Cam nang cán cân thanh toán quốc tế” của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Quỹ tiền tệ quốc tế là một tổ chức quốc tế thực hiện giám sát h ệ thống tài chính toàn cầu bằng cách theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán , cũng như thực hiện các hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ về tài chính khi có yêu cầu. Kể từ khi được thành lập (ngày 27/12/1945) cho tới nay, Quỹ Tiền tệ quốc tế đã chú trọng quan tâm trong việc phát triển và ban hành các tài liệu hướng dẫn về sự cân bang các số liệu thống kê thanh toán. Ban “Hướng dan quản lý dự trữ ngoại hối” đầu tiên được IMF giới thiệu ngày 20/9/2001. Ké từ đó, tài liệu này đã được IMF xem xét và cập nhật nhiều lần, trong đó bản cập nhật cuối cùng là năm 2012 (được chính thức ban hành ngày 01/2/2013).
Bản hướng dẫn này đã được thiết lập bởi IMF và một nhóm các NHTW và các co quan tiền tệ. Mục tiêu của nó là nhằm thúc day những thông tệ tốt nhất cho quản lý DTNH. Điều này không có nghĩa là các NHTW phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn nay, mà thay vào đó sử dụng nó làm cơ sở để thiết lập các nguyên tắc quản lý DTNH riêng của mình. Bản hướng dẫn này bao gồm bốn van đề được IMF xác định là cần thiết để quản lý DTNH, đó là: các mục tiêu quản lý dự trữ ngoại hối; tính minh bach và trách nhiệm giải trình; khuôn khô thê chê va tô chức; và khuôn khô quản lý rủi ro.
Kể từ khi phiên bản “Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế” đầu tiên được xuất bản (tháng 01/1948), các phiên bản kế tiếp (phiên bản thứ 2 - năm 1950, phiên bản thứ 3 - năm 1961, phiên bản thứ 4 - năm 1977, phiên bản thứ 5 - năm 1993) đã được IMF cập nhật, nghiên cứu và cải tiến cho phù hợp với các sự kiện quan trọng xảy ra trong nền kinh tế thé giới. Dang chú ý là phiên bản thứ 5, phát hành tháng 9/1993, lần đầu tiên giải quyết các lĩnh vực quan trọng của lĩnh vực thống kê đầu tư quốc tế. Còn phiên bản thứ 6 (phiên bản mới nhất - tháng 11/2008) được xây dựng trên sự quan tâm trong việc kiểm tra các 16 hồng khi sử dung số liệu bảng cân đối kế toán, cũng như bổ sung thêm các thành phần trong bảng cân đối kế toán. Ngoài ra, nó đề cập tới sự phát triển của thị trường tải chính, trong đó cập nhật một loạt các vấn đề như chứng khoán và các tổ chức tài chính đặc biệt.
Đề hỗ trợ thống nhất và gắn kết lẫn nhau giữa các số liệu thống kê kinh tế vi mô, phiên ban này của IMF tập trung vào sự hài hòa giữa hệ thống tài khoản Quốc gia (SNA) với các Hướng dẫn của IMF về số liệu thống kê tiền tệ, tài chính và ngân sách của Chính phủ. Việc phát hành phiên bản thứ 6 là đỉnh cao của nhiều năm làm việc, nghiên cứu của Cục Thống kê và các Ủy ban về thong ké can can thanh toán của IMF. Nó cập nhật phiên ban thứ 5, cung cấp hướng dan cho các nước thành viên IMF trong việc lập cán cân thanh toán và dữ liệu đầu tư quốc tế. Bên cạnh hai tài liệu “Hướng dẫn quản lý dự trữ ngoại hối” và “Câm nang cán cân thanh toán quốc tế” của IMF, một tài liệu khác đáng chú ý liên quan đến quản lý DTNH là cuốn sách “RISK MANAGEMENT FOR CENTRAL BANK FOREIGN RESERVES” (Quản lý rủi ro trong dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương) do Ngân hàng Trung ương Châu Âu xuất bản tháng 5/2004.
Cuốn sách này đã tập hợp những đóng góp quý báu của các học giả và các chuyên gia phản ánh bản chất cụ thé của quá trình quan lý DTNH của NHTW; trong đó nổi bật là vai trò quan trọng của công tác quản lý rủi ro trong việc xác nhận và cải tiến các quy trình đầu tư DTNH của các NHTW. Cuốn sách bao gồm ba nội dung chính: (i) Tổng quan chung và các chiến lược đầu tư dự trữ ngoại hối; (ii) Hướng dan chi tiết về phương pháp do lường và quản lý rủi ro (các công cụ đo lường và tối ưu hóa danh mục đầu tư); va (iii) Nghiên cứu các điền hình thực tế tại một số NHTW trên thé giới. Ngoài ra, liên quan đến đề tài này có một số bài nghiên cứu, đó là: - Bài nghiên cứu “Foreign exchange reserve accumulation in emerging markets: what are the domestic implications?” cua hai tac gia Mohanty va Philip Turner thảo luận về một số tác động nội tại trong nước tới việc can thiệp ngoại hối quy mô lớn giai đoạn 2000-2005 của các nền kinh tế thị trường mới nổi dé nhằm kiềm chế lạm phat (Mohanty, 2006). - Bài nghiên cứu “Intra-regional Currency Linkages and the Evolution of Exchange Rate Regime of the ASEAN Region” cua tac gia Nguyen Tung (trường Dai hoc Illinois Wesleyan University - Hoa Ky) viết về các m 6i liên hệ tiền tệ và sự phát triển của co chế tỷ giá hối đoái của các nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN).
Thông qua sử dụng tỷ giá hối đoái hàng tháng cho mỗi đơn vị SDR và toàn bộ dữ liệu DTNH mở rộng sau thời kỳ Bretton Woods (1973-2014), đồng thời sử dụng mô hình tính toán Frankel-Wel, kết quả cho thấy trước thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á (1973-1996), đồng tiền các nước trong khu v ực ASEAN chủ yếu neo vào đồng đô la Mỹ và mối liên kết tiền tệ giữa các nước trong khu v ực ASEAN thì rất yếu. Tuy nhiên, sau thời kỳ khủng hoảng (1999-2014) đồng tiền các nước trong khuv uc ASEAN đã trở nên linh hoạt hơn và mối liên kết tiền tệ giữa các nước trong khu vực ASEAN đã tăng lên đáng ké (Nguyen Tung, 2015). Các công trình nghiên cứu trong nước Bên cạnh các công trình nghiên cứu ngoài nước, trong nước cũng có một sô công trình liên quan đên đê tải. Nghiên cứu về quản lý DTNH của NHTW là một vấn đề khó nhưng có ý nghĩa thiết thực, vì vậy đã có một số tác giả nghiên cứu về van dé này như: Nguyễn Thị Phương Mai (2012) “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hồi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” (Luận văn Thạc sĩ kinh tê, Học viện Ngân hàng).
Đề tài này đã phản ánh được thực trạng của công tác quản lý DTNH của NHNN giai đoạn 2006 - 2011 theo Nghị định số 86/1999/NĐ-CP của Chính phủ và đưa ra được một số giải pháp về tăng quy mô Quỹ dự trữ ngoại hối và đa dạng hóa cơ cấu đầu tư ngoại tệ trong thanh toán và dự trữ quốc tế của NHNN; và Nguyễn Thị Thúy Linh (2011) “Pháp luật về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” (Luận văn Thạc sĩ Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội). Đề tai này chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra định hướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về quản lý ngoại hối của NHNN. Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu, Báo cáo nghiên cứu và bài báo khoa học liên quan như: - Bài viết “Quy mô và cơ cấu dự trữ ngoại hối của Việt Nam thời kỳ hậu WTO” của nhóm tác giả Lê Th i Tuan Nghĩa và Phạm Thị Hoang Anh đã phân tích quy mô DTNH dựa trên một số tiêu chí chuẩn quốc tế từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, đồng thời phân tích cơ cấu DTNH của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhóm tac giả đề xuất một số kiến nghị về mặt chính sách cho NHNN nhằm tăng quy mô cũng như nâng cao hiệu quả quản lý DTNH tại Việt Nam (Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh, 2013).
- Phạm Thị Hoàng Anh và Bùi Duy Phú, Đánh giá mức độ can thiệp trung hòa của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại hối bằng mô hình tuyến tính và phi tuyến tính, Tap chí Ngân hàng số 16, năm 2013. Trong bài việt này, các tác giả phân tích và đánh giá mức độ can thiệp trung hòa của NHNN trên thị trường ngoại hối bằng mô hình tuyến tính và phi tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho th ay, NHNN mới chỉ thực hiện được trung hoa một phần tác động của hoạt động can thiệp trên thị trường ngoại hối. - Học viện Ngân hàng (2015), Diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại tệ Việt Nam dưới tác động chính sách của Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo nghiên cứu 15/01.
Nhóm tác giả nghiên cứu, xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa tỷ giá và một số biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, cán cân thương mại, mức độ đô la hóa, quy mô DTNH và nợ nước ngoài bằng một số mô hình thực nghiệm. Kết quả báo cáo nghiên cứu cho thấy, tại Việt Nam, tỷ giá nhạy cảm với lạm phát và kém nhạy cảm với cán cân thương mại. Ôn định tỷ giá làm giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế, tăng DTNH, đồng thời giảm bớt gánh nặng nợ nước ngoài. Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị, chính sách nhằm duy trì sự 6n định tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới.
Đánh giá chung Có thể nhận thấy, các nghiên cứu quốc tế đã nghiên cứu khá đầy đủ và công phu về cơ sở khoa học, cũng như đã đưa ra được các nội dung mang tính chất lý luận toàn điện về quản lý DTNH nói chung, nhưng lại thiếu các nghiên cứu mang tính áp dụng thực tiễn đối với một định chế tài chính đặc biệt là NHTW của một nước đang phát triển là Ngân hàng Nha nước Việt Nam. Ngược lại, các nghiên cứu trong nước đã chú trọng hơn trong các nghiên cứu gắn liền với thực tiễn (tại NHNN) nhưng mới chỉ tập trung ở một số khía cạnh cụ thể nào đó (pháp luật về quản lý ngoại hối, quy mô và cơ cấu dự trữ ngoại hối dựa trên một số tiêu chí chuẩn quốc tế, diễn biến tỷ giá, mức độ can thiệp thị trường ngoại hối.) mà chưa mang tính tông thé, toàn diện.