Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và công tác huy động vốn của Ngân hàng Thương mại; Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tô Hiệu giai đoạn 2013 – 2017; Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tô Hiệu giai đoạn 2018 – 2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về vốn 1. Khái niệm về vốn tại ngân hàng thương mại Vốn của từng ngân hàng thương mại nói riêng cũng như của toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung luôn được thể hiện dưới hai hình thức là vốn nguồn và vốn sử dụng.
Vốn nguồn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập, huy động và quản lý để thực hiện các hoạt động kinh doanh và cung ứng các dịch vụ tài chính - tiền tệ cho toàn xã hội. Hình thức vốn này của ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng. Nó gồm có vốn chủ sở hữu (vốn pháp định hay vốn điều lệ), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ tài chính (dự phòng rủi ro). và vốn huy động từ bên ngoài xã hội (như vốn tiền gửi, vốn đi vay, vốn huy động từ phát hành các giấy tờ có giá.[8, Tr 9, 10] Vốn sử dụng là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng thương mại bỏ ra để có những tài sản như ngân quỹ, cho vay, đầu tư, tài sản cố định, công cụ lao động,.Những tài sản này hoặc trực tiếp sinh lời cho ngân hàng thương mại (tài sản có sinh lời) hoặc phát huy vai trò phục vụ cho các hoạt động sinh lời của ngân hàng thương mại.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phân loại vốn tại ngân hàng thương mại 1. Vốn chủ sở hữu Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép) chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định.Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử 5 dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng.Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.[13,Tr 1-7] - Nguồn vốn hình thành ban đầu: Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà Nước, ngân sách Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước).Nếu là ngân hàng cổ phần, các cổ đông góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu.
Ngân hàng liên doanh có các bên liên doanh góp: ngân hàng tư nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân. - Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy phụ thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng.
Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao hơn so với vốn của chủ hình thành ban đầu. Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp them,. để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng thêm vốn của chủ do ngân hàng Nhà nước quy định,. Đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân hàng có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.
- Các quỹ: Ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quỹ có mục đích riêng. Trước tiên là quỹ dự phòng tổn thất. Quỹ này được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao món của vốn dưới tác động của lạm phát. Quỹ thặng dư là 6 phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Tùy theo quy định cụ thể của từng nước, các ngân hàng có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc,. Các quỹ ngân hàng huộc sở hữu của chủ ngân hàng.
Nguồn hình thành các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên một số quỹ ngân hàng không thể sử dụng lâu dài. - Nguồn vốn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận của vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. Vốn nợ - Tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi: Tiền gửi khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng, Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau. Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch, hoặc tiền gửi thanh toán): Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện.
Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung, lãi suất của tiền này rất thấp (hoặc bằng không), thay vào đó chủ tài khoản có thể được 7 hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp. Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản có thể phát séc) cho khách hàng. Thủ tục mở rất đơn giản.
Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tên và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay (thấu chi – chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán.Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất tiền gửi này nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác. Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một khoảng thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất rất thấp.
Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này.Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm).
Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ hoặc vàng. Ngân hàng có thể mở cho mỗi 8 người tiết kiệm nhiều trương mục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau.Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép. Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác.Tuy nhiên, quy mô nguồn này thường không lớn.
- Tiền vay và nghiệp vụ đi vay của ngân hàng thương mại: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm.Tại nhiều nước, ngân hàng trung ương thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn của chủ. Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Vay ngân hàng Nhà Nước (vay ngân hàng trung ương): Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại.Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), ngân hàng thương mại thường vay ngân hàng Nhà Nước. Hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Nhà Nước là tài chiết khấu (hoặc tái cấp vốn).Các thương phiếu đã được các ngân hàng thương mại chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản của họ.
Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại ngân hàng Nhà Nước. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của ngân hàng thương mại giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại ngân hàng Nhà Nước) tăng lên.