CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái quát về Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Tính đến thời điểm hiện nay vẫn còn có rất nhiều những khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM): - Định nghĩa NHTM Ở Mỹ cho rằng: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. [9 ] - Định nghĩa trong Đạo luật Ngân hàng của Pháp (1941) : “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác nhau và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
[9 ] - Ở Việt Nam theo luật các TCTD : “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.”[8] Từ những nhận định về NHTM trên chúng ta có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ tài chính của xã hội. Chức năng của NHTM 1. Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng của NHTM được biết tới là chức năng quan trọng nhất.
Khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM đóng vai trò là cầu nối hai bên giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò vừa là bên nhận 4 tiền gửi, vừa đóng vai trò là bên cho vay và hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất tiền cho vay. Từ đó, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia là: người gửi tiền và người đi vay. Huy động nguồn vốn và đầu tư nguồn vốn vay đó là hoạt động quan trọng của Ngân hàng, nó mang đến lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đó.
Chức năng trung gian thanh toán Trong chức năng này NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp, các cá nhân và các tổ chức. NHTM thực hiện các hoạt động thanh toán theo đề nghị và yêu cầu của khách hàng như: trích tiền từ tài khoản của khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nộp tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng từ hoạt động bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu của khách hàng.[9] Các NHTM cung cấp đa dạng các hình thức thanh toán cho khách hàng thông qua nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như: Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu của khách hàng, khách hàng có thể chọn lựa cho mình phương thức thanh toán phù hợp và tiện lợi mà không cần phải cầm tiền mặt. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền, mang theo tiền mặt để gặp bạn hàng, đối tác, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một trong những phương thức thanh toán phù hợp để thực hiện các khoản thanh toán và giao dịch. Vì vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, thời gian đi lại và hoạt động, cũng như đảm bảo thanh toán an toàn tiện lợi.
Chức năng này kích thích và thúc đẩy việc hoạt động thanh toán, lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển nền kinh tế. Chức năng tạo tiền Trong NHTM chức năng tạo tiền trong hoạt động kinh doanh phản ánh rõ bản chất hoạt động của NHTM với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận, một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của NHTM. Các NHTM với nghiệp vụ 5 kinh doanh hoạt động mang tính đặc trưng đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền của NHTM được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác đó là: chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.[9] Thông qua chức năng là trung gian tín dụng, hoạt động của ngân hàng sử dụng số vốn huy động để cho vay, số tiền cho vay ra được khách hàng sử dụng trong hoạt động kinh doanh mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ.
Trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng thanh toán, hệ thống NHTM đã làm đa dạng và tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhanh nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội mà không cần phải sử dụng tiền mặt khi giao dịch. Các hoạt động cơ bản của NHTM 1. Hoạt động huy động vốn của NHTM NHTM bất kì nào cũng bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình bằng việc huy động nguồn vốn để hoạt động. Đối tượng huy động của NHTM chính là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và dân cư.
Nguồn vốn quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn VHĐ của NHTM là tiền gửi của khách hàng, doanh nghiệp và tổ chức. Các NHTM huy động vốn từ tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội, thậm chí cả nguồn tiền của các Ngân hàng khác[7]. Những người có tiền nhưng chưa sử dụng đến họ có thể đem ra đầu tư hoạt động kinh doanh hoặc gửi Ngân hàng để nhận tiền lãi. Thông thường khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, vì đây là cách đơn giản nhất, không tốn kém chi phí đầu tư mà vẫn có lãi.
Thông thường khách hàng có nguồn tiền lớn họ sẽ lựa chọn gửi tiết kiệm thay vì dự trữ ngoại tệ và vàng nhiều hơn. Ngoài ra, người gửi tiền vào Ngân hàng cũng mong muốn được sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng như chuyển tiền, thanh toán các hoá đơn phát sinh, bảo quản tài sản có giá trị lớn. 6 Từ hoạt động huy động nguồn vốn đó Ngân hàng có thể sử dụng chính nguồn vốn huy động được tạo nguồn cho vay, từ đó Ngân hàng có thể đầu tư, kinh doanh tìm kiếm được lợi nhuận từ khoản chênh lệch. Hoạt động HĐV có ý nghĩa lớn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Thông qua hoạt động huy động vốn, Ngân hàng có thể tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn khác nhau thành nguồn vốn của Ngân hàng. Từ đó cung cấp một nguồn vốn cho nền kinh tế, kích thích hoạt động kinh doanh của cá nhanh, doanh nghiệp và tổ chức,điều khó khăn nhất mà Ngân hàng phải thực hiện là sử dụng các nguồn huy động vốn đó có thời hạn gửi rất khác nhau để cho vay những món có thời hạn xác định ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.[1] Chính vì vậy nguồn huy động vốn đầu vào càng dài hạn thì hoạt động kinh doanh cho vay của ngân hàng càng có hiệu quả. Việc huy động nguồn vốn từ những nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội để đưa vào kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có của nền kinh tế. Ngoài ra, hoạt động nhận tiền gửi và đưa ra các dịch vụ thanh toán điện tử không dùng tiền mặt của Ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ trong thị trường.
Đặc biệt là chúng ta đang bước vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, trong nền công nghiệp số hóa kinh tế phát triển hiện nay nếu người dân có thói quen hạn chế sử dụng tiền mặt để giao dịch, thay vào đó là sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại qua ngân hàng điện tử điều đó sẽ góp phần giúp nhà nước quản lý thu nhập được của người dân. Một trong những nguồn vốn huy động không kém phần quan trọng đó là nguồn vốn từ phát hành kì phiếu, trái phiếu. Việc phát hành kì phiếu hay trái phiếu phụ thuộc vào quy mô vốn của NHTM, thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và tài sản của NHTM tại thời điểm đó.[7] Những hoạt động huy động nguồn vốn trên đã hình thành nên tài sản nợ của Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả một phần lợi nhuận đối với tất cả các nguồn vốn huy động được. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn 7 huy động được sẽ quyết định đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đó.
Do đó, quản lý sử dụng nguồn vốn phù hợp và có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược trong hoạt động kinh doanh đối với mỗi Ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM Hoạt động sử dụng vốn của NHTM là quá trình phân bổ nguồn vốn vào các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Nó thực chất là hoạt động tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng. Những loại tài sản này có thể trực tiếp mang lại nguồn thu cho ngân hàng hoặc phát huy vai trò trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.[7] Khi đã huy động được nguồn vốn Ngân hàng sẽ có những hoạch định, chiến lược đầu tư để nguồn vốn đó đến đúng người, đúng nơi, đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn và đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng.
Sử dụng vốn của NHTM bằng nhiều những hoạt động đầu tư như: Ngân hàng đã tài trợ lại cho nền kinh tế dưới dạng các thành phần kinh tế vay hoặc đầu tư trực tiếp, Ngân hàng tham gia góp vốn cùng hoạt động kinh doanh hay cho thuê tài sản cố định,Ngân hàng gửi tiền tại các Ngân hàng khác- tại Ngân hàng Nhà nước- những tổ chức tín dụng khác hoặc sử dụng vốn khác.[1] Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động cho vay trong nền kinh tế đã giúp Ngân hàng có vị trí ngày một quan trọng hơn trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Không những vậy thông qua hoạt động cho vay, NHTM có khả năng “tạo tiền” hay mở rộng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Tuy nhiên hoạt động cho vay của Ngân hàng còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nên NHTM thường áp dụng các quy định, nguyên tắc hoạt động và quản lý nguồn tiền vay một cách chặt chẽ để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh.