CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động huy động vốn của NHTM 1. Khái niệm [4] Hoạt động huy động vốn là việc các ngân hàng tìm kiếm các nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường theo quy định của pháp luật. Phân loại các hoạt động huy động vốn của NHTM [3] 1.
Phân loại căn cứ theo thời gian Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lời của nguồn vốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng Huy động ngắn hạn Là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán…Phần lớn số này dung để cho vay ngăn hạn (dưới 1 năm) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tính ổn định lại kém. Huy động trung hạn Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm).Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện.Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Huy động dài hạn Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của NH trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên).
Do vậy lãi suất NH phải trả cũng rất cao. Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động Huy động vốn từ dân cư NH huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Các khoản tiền nhàn rỗi của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào dịch vụ, các tiện ích mà NH mang lại khi KH sử dụng dịch vụ.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Trong quá trình hoạt động các NH thường có các khoản tiền gửi ở lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán,…Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các NH cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Huy động vốn từ các NH và các TCTD khác tuy cũng khá là dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy, hình thức này các NH sử dụng không nhiều. Phân loại căn cứ theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử dụng hiện nay.
Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng là cơ sở để ngân hàng khi tiến hành huy động vốn một cách thuận tiện nhất. Các hình thức huy động bao gồm: Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào. Huy động tiền gửi có kỳ hạn: Là các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời gian nhất định.
Khoản tiền gửi này được trả lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ hạn. 5 Huy động tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn phổ biến nhất, lâu đời nhất của các NHTM. Bao gồm các loại: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài. Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay.
Các NHTM có thể vay từ các tổ chức tín dụng hay NHNN. Huy động vốn thông qua phát hành các công cụ nợ Huy động thông qua phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu. Trái phiếu Trái phiếu ngân hàng là một tờ giấy có giá, xác nhận khoản nợ của KH đối với người chủ NH với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước.Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống NH, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn. Kỳ phiếu Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế… Huy động vốn qua các hình thức khác Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các NHTM còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng tài trợ…Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên càng mang lại cho ngân hàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân hàng có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả.
Huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân của NHTM [5,7,8] 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân 1. Khái niệm Tiền gửi chính là toàn bộ khoản tiền mà khách hàng gửi vào trong Ngân hàng để hưởng lãi hay sử dụng các dịch vụ tiện ích của Ngân hàng. Trong khoản 1, điều 6, Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2014 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước thì: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và hưởng lãi đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Do vậy khoản tiết kiệm không được dùng để phát hành séc hay thực hiện các thanh khoản khác ngoại trừ người gửi tiền đề nghị trích tài khoản tiền gửi tiết kiệm để trả nợ vay hay chuyển sang một tài khoản khác của chính chủ tài khoản. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (như tiền gửi với các kỳ hạn, tiết kiệm bằng ngoại tệ, vàng…). Đặc điểm Tất cả loại tiền gửi đều góp phần làm tăng tổng lượng tiền của hệ thống NH trong đó tiền gửi của cá nhân là nổi trội hơn cả.
Đây là thị trường đầy tiềm năng, mở ra nhiều cơ hội lớn cho ngân hàng. Nguồn tiền gửi tiết kiệm từ KH cá nhân (dân cư) là một nguồn vốn vô cùng dồi dào, là nguồn tiền vốn có tính vững chắc, ngày một tăng thêm. Nguồn tiền gửi tiết kiệm từ KH cá nhân là sở hữu của từng cá nhân, họ có quyền quyết định gửi vào, lĩnh ra, không ai được xâm phạm quyền đó trừ 7 trường hợp đặc biệt khi có quyết định của pháp luật. Người gửi luôn muốn bí mật số dư nên không đối chiếu hàng tháng, hàng quý, hàng năm nhưng nguồn tiền gửi đó lại tồn tại mãi mãi.
NH sẽ có những biện pháp hợp lý để thông báo cho KH về số dư tài khoản qua các phương tiện thông tin như điện thoại (qua tin nhắn), mail… đảm bảo tính an toàn bảo mật thông tin cho KH. Như đã nói ở trên, tiền gửi tiết kiệm từ KHCN có khách hàng là cá nhân nên ngân hàng không có điều kiện nghiên cứu từng cá nhân. Do đó, ngân hàng phải đa dạng nguồn tiền gửi tiết kiệm để mỗi khách hàng cá nhân có thể lựa chọn một hình thức gửi tiền cho phù hợp. Lượng tiền gửi của các cá nhân là không nhiều (trong mỗi lần gửi) nhưng đây là nguồn tiền thường xuyên và liên tục, hầu như tạo ra luồng vốn chảy vào ngân hàng một cách đều đặn, vì vậy các ngân hàng đang tập trung khai thác nguồn tiền gửi tiết kiệm các nhân này.
Mỗi ngân hàng phải làm sao để tạo ra tiện ích và tín nhiệm tuyệt đối với người gửi thì số dư tiền gửi tiết kiệm sẽ dễ dàng tăng lên khi nền kinh tế hàng hoá đang ngày càng đổi mới và phát triển. Tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân là một thị trường tiềm năng nguồn vốn - nguồn huy động không thể thiếu của mọi ngân hàng thương mại. Phân loại tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút theo yêu cầu mà không báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi. Sản phẩm tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai.
Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất kỳ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy, ngân hàng thường trả lãi thấp cho loại tiền gửi này. 8 Với số tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền bất kỳ lúc nào trong giờ giao dịch. Tuy nhiên, khác với hình thức tài khoản tiền gửi cá nhân mỗi lần giao dịch khách hàng phải xuất trình sổ tiền gửi và chỉ có thể thực hiện các giao dịch ngân quỹ như gửi tiền và rút tiền chứ không thực hiện được các giao dịch thanh toán như trong trường hợp tiền gửi thanh toán.