Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TẠO NGUỒN CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHO CHÍNH QUYỀN HUYỆN BỐ TRẠCH 1.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm và phân định cán bộ 1.1 Khái niệm về cán bộ Trước hết, để có quan niệm đúng về đội ngũ cán bộ chủ chốt thì cần phải làm rõ khái niệm về cán bộ. Từ trước đến nay, khái niệm “cán bộ” thường được dùng ở các nước xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, xung quanh khái niệm này còn có nhiều ý kiến khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 2006 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, cán bộ có hai nghĩa: “1.
Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công LV thạc sĩ Quản lý công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, mà trong cả hệ thống chính trị. Bộ phận cán bộ nghiệp vụ chuyên môn trên đây thường được hình thành thông qua con đường đào tạo từ nhà trường.
Đây là bộ phận cán bộ đông đảo và thường ổn định nhất. Với nghĩa thứ hai, để chỉ người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân biệt với người không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm có thời hạn nhất định, thường là theo nhiệm kỳ.
Công trình nghiên cứu khoa học của TS Nguyễn Phú Trọng "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, định nghĩa: "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến 13 hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức". Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [17, tr. Theo quy định này, tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
Như vậy, có thể nhận diện được những đặc điểm cơ bản của cán bộ là i) bộ LV thạc sĩ Quản lý công khung, là nòng cốt, ii) có tác động lớn đến sự phát triển của tổ chức, iii) hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng các định nghĩa về cán bộ của các nhà nghiên cứu, các văn bản của nhà nước về điều chỉnh nội dung về “cán bộ” chưa được thống nhất, chưa đi đến một cái nhìn chung, một quan điểm chung về bản chất thực sự về cán bộ là như thế nào. Tuy nhiên, nhìn chung cán bộ được hiểu là những công chức, viên chức nhà nước, có chức vụ làm việc trong một cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị; là những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Từ những đặc điểm chung đó, cán bộ được phân chia trên nhiều lĩnh vực, nhiều chức danh, cấp độ khác nhau.
Trong từng loại cán bộ đều có quy định tiêu chuẩn, tiêu chí, chức năng và nhiệm vụ khác nhau.2 Cán bộ chủ chốt “Chủ chốt” là một tính từ chỉ tính chất “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [30, tr. Nói đến chủ chốt là nói đến quan hệ trong một tập 14 hợp nhất định có nhiều phần tử, nhiều đối tượng với vị trí, tính chất, vai trò của những phần tử trong tập hợp ấy có khác nhau. Để làm rõ “cán bộ chủ chốt” cần chú ý: theo Từ điển tiếng Việt, “Chủ chốt quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt, cán bộ chủ chốt của phong trào” [30, tr. Trong từng tổ chức, đều có người đứng đầu hoặc người lãnh đạo, trong một số tổ chức có tập thể lãnh đạo.
Vậy, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, là nòng cốt của tổ chức, địa phương ấy, có tác dụng chi phối chính tới toàn bộ hoạt động của tổ chức ấy. Ví dụ: trong tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt của cấp ủy là bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ cấp ủy; trong ủy ban nhân dân, cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân; trong cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội thì cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch đoàn thể ấy. Cần chú ý rằng, cán bộ chủ chốt chỉ được xác định trong một mối quan hệ giữa cá nhân với một tập thể nhất định. Ví dụ: Đồng chí bí thư xã, thị trấn LV thạc sĩ Quản lý công thuộc huyện là cán bộ chủ chốt của xã, thị trấn đó, đó là xét trong mối quan hệ giữa đồng chí đó với xã, thị trấn nơi đồng chí giữ chức vụ bí thư.
Còn trong mối quan hệ giữa đồng chí bí thư xã, thị trấn với ban chấp hành đảng bộ huyện thì đồng chí đó không phải là cán bộ chủ chốt. Để làm rõ thêm về “cán bộ chủ chốt”, có thể nói thêm về “công chức chủ chốt”, đây có thể coi là một thuật ngữ tương đối mới vì từ trước đến nay, trong các hoạt động công quyền, người ta thường dùng chung thuật ngữ “cán bộ chủ chốt” thường bao gồm luôn đối tượng công chức chủ chốt. Tuy nhiên, khi có sự phân biệt rõ rệt giữa cán bộ và công chức thì trong đội ngũ công chức cùng công tác tại một đơn vị, sẽ có người lãnh đạo, quản lý và người thừa hành theo mệnh lệnh hành chính. Vì vậy, công chức chủ chốt ở đây có nghĩa là người quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt, chịu trách nhiệm hoặc được giao chịu trách nhiệm về hoạt động lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị đó.
Ví dụ, trong văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, công chức chủ chốt là chánh văn phòng và các phó chánh văn phòng; trong phòng Kinh tế - Hạ tầng 15 trực thuộc ủy ban nhân dân huyện thì công chức chủ chốt là trưởng và các phó trưởng phòng. Cũng có ý kiến cho rằng, trưởng phòng của một ủy ban nhân dân huyện thường là ủy viên ban chấp hành đảng bộ huyện, như vậy người đó đương nhiên đã là “cán bộ” và là “cán bộ chủ chốt” tại cơ quan đó (phòng thuộc ủy ban nhân dân huyện), do vậy không cần xếp vào hàng “công chức chủ chốt”. Điều này là đúng song chưa đủ, vì tại nhiều quận, huyện, cấp trưởng một phòng chưa hẳn đã được bầu vào ban chấp hành đảng bộ quận, huyện đó. Nếu cứ đối chiếu theo quy chuẩn thì người trưởng phòng đó sẽ không được xếp hạng “cán bộ chủ chốt”.3 Khái niệm về “nguồn” và “tạo nguồn” “Nguồn”: có từ gốc là chữ “Nguyên” có nghĩa là “nguồn nước, nguồn gốc, nguồn cội của sự việc” - “Vốn sẵn có như vậy” - “Bắt đầu, đứng đầu…” [12, tr.
“Nguyên” = “Đầu - Bắt đầu - Lớn… - Nguồn nước” [1, tr. LV thạc sĩ Quản lý công “Tạo”: “Chế làm vật phẩm - Bắt đầu - Bày đặt ra - Dựng ra lần đầu - Xây đắp [1, tr. “Tạo nguồn”, hoặc “dự nguồn” là những ngữ định danh (tương đương từ) mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Các thuật ngữ này thường được sử dụng trong phạm vi (lĩnh vực) công tác tổ chức cán bộ, quản lí hành chính công vụ.
Như vậy, khi nói “nguồn cán bộ” thì từ “nguồn” đã được chuyển nghĩa, mang nghĩa là nơi bắt đầu của công tác cán bộ. “Tạo nguồn” là bắt đầu xây dựng một đội ngũ cán bộ kế cận. Tạo nguồn cán bộ, công chức chủ chốt tức là thực hiện công tác chuẩn bị, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kế cận cho đội ngũ cán bộ, công chức chủ chốt hiện có. Cần lưu ý sự khác biệt giữa thuật ngữ “tạo nguồn cán bộ, công chức” và “đào tạo nguồn cán bộ, công chức”.
Trong đó, “tạo nguồn cán bộ, công chức” có ý nghĩa rộng lớn hơn. Nó bao hàm việc tìm kiếm, tuyển chọn, xây dựng, bồi dưỡng và đào tạo, quy hoạch cán bộ còn “đào tạo nguồn” chỉ là một 16 khâu nằm trong hoạt động “tạo nguồn”. “Đào tạo nguồn cán bộ, công chức” thường hàm nghĩa là một nội dung hoạt động cụ thể với một đối tượng đã được xác định hoặc mặc định có sẵn để đối tượng đó đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn để lựa chọn vào các vị trí cán bộ chủ chốt.2 Một số vấn đề về cán bộ chủ chốt huyện 1.1 Khái niệm về cán bộ chủ chốt huyện Để hiểu rõ về cán bộ của huyện, cần phải căn cứ vào hệ thống chính trị của nước ta. Hệ thống này là một chỉnh thể thống nhất bao gồm 04 cấp là: Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn.
Mỗi cấp có vai trò, vị trí và chức năng khác nhau. Trong hệ thống chính trị này, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu của một tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương nhất định. Cán bộ chủ chốt của một tổ chức, đơn vị, địa phương là những người có vai trò quan trọng, nòng cốt của tổ chức, địa phương đó. LV thạc sĩ Quản lý công Đối với hệ thống chính trị cấp quận, huyện, thị xã (gọi tắt là cấp huyện), có thể gọi đây là cấp lãnh đạo, quản lý cấp xã, phường, trị trấn (gọi tắt là cấp xã) một cách trực tiếp, toàn diện, sâu sát trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.