Chương I: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Đơn vị hành Luận văn Quản lý công chính - kinh tế đặc biệt. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập” [42]. Cấp huyện là cấp hành chính cấp hai của Việt Nam, thấp hơn (về thẩm quyền), và thông thường thì cấp này cũng có quy mô dân số, diện tích, kinh tế nhỏ hơn cấp tỉnh. Đây là cấp hành chính cao hơn cấp xã, phường, thị trấn.
Cấp hành chính này có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo cấp hành chính nó trực thuộc, gồm "Huyện", "Quận", "Thị xã", "Thành phố trực thuộc tỉnh". Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung đi vào loại cơ quan hành chính Nhà nước. Một đặc điểm nổi bật của cơ quan hành chính Nhà nước đó là có quan hệ trực thuộc dọc, ngang tạo thành một hệ thống thống nhất, theo thứ bậc chặt chẽ. Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
11 Ngoài bộ máy thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước ở Trung ương, bộ máy hành chính địa phương ở nước ta chia thành 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Cụ thể, theo điều 110, Hiến pháp 2013 quy định: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập”. Hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước ở địa phương có vị trí, vai trò, chức năng rất quan trọng, đó là chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ.
Và trong mỗi cấp hành chính, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định Luận văn Quản lý công cụ thể trong pháp luật. Có thể nhận thấy sự khác biệt tương đối rõ nét ở ba cấp chính quyền trong tổ chức hành chính Nhà nước ở địa phương nước ta. Cụ thể là: Chính quyền cấp tỉnh: thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ yếu thông qua hoạt động hoạch định, xây dựng quy hoạch tổng thể, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho toàn tỉnh, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra các hoạt động diễn ra trong từng lĩnh vực. Điều này được ghi trong luật Tổ chức Chính quyền địa phương: Đối với chính quyền cấp huyện: việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn thông qua cả hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách.
Đây là cấp trung gian trong hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước địa phương, là cầu nối giữa cấp tỉnh và cấp xã. Do vậy, có thể thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện vừa là những người trực tiếp triển khai, hướng dẫn thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội trên địa 12 bàn huyện, vừa là những người xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm cho địa phương mình. Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn: là cấp cơ sở trong cơ cấu tổ chức hành chính Nhà nước địa phương ở nước ta. Đây là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai, thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước, nội dung văn bản pháp luật tới người dân dựa trên sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên trực tiếp và thực hiện theo những chương trình, kế hoạch do cấp trên trực tiếp xây dựng nên.
Như vậy, có thể thấy ở mỗi cấp chính quyền, tùy vào nhiệm vụ và quyền hạn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức - những người có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ ấy cần phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về năng lực chuyên môn, tư tưởng chính trị, đạo đức công chức. Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng cần được xét đến trong hoạt động bồi dưỡng để Luận văn Quản lý công nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, phù hợp với đặc thù từng cấp chính quyền. Đối với từng cấp, từng đối tượng bồi dưỡng cần phải xây dựng nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu công việc trong hiện tại và cả tương lai. Công chức, công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện * Công chức Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này [17].
Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến 13 công vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đến đội ngũ công chức. Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau. Có nhiều nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những thành viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia làm các dịch vụ công; hay hẹp hơn như tại Anh: công chức là những người thay mặt Nhà nước giải quyết công việc công, nhất là tại Trung ương, cho nên phạm vi công chức thu hẹp hơn nhiều. Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước và đã có thay đổi qua nhiều giai đoạn khác nhau: Tháng 2 năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành.
Điều 1 của Pháp lệnh quy định: “cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…” [58; tr. Quy định này khẳng định Luận văn Quản lý công quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ với công chức. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như nhằm phân biệt rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008. Khoản 2, điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, 14 quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [41; tr.
Theo quy định, những người là công chức thì công chức các cơ quan hành chính cấp huyện bao gồm: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. * Công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, bao gồm: “1. Cơ quan chuyên môn Luận văn Quản lý công thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên; 2. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên; 3.
Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn; 4. Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. 15 Vì vậy, công chức các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm việc trong các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Bồi dưỡng công chức các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1.
Bồi dưỡng Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi bổ sung những kỹ năng hoạt động đối với công chức đang giữ một chức danh, một ngạch công chức, viên chức nhất định. Mục đích chủ yếu của bồi dưỡng là bổ sung kiến thức và kỹ năng.