Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp và các công cụ nhận diện các giá trị văn hóa doanh nghiệp, Chương 2: Nhận diện và đánh giá văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Phước Kỳ Nam. Chương 3: Phương hướng và hàm ý giải pháp nhằm phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Phước Kỳ Nam. i CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC CÔNG CỤ NHẬN DIỆN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.11 Khái niệm văn hóa 'Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa và được tiếp cận theo nhiễu góc độ và lĩnh vực khác nhau. Tùy theo lĩnh vực nghiên cứu, văn hóa cần được tiếp cận phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực đó.
Theo tiếng Latinh, từ văn hóa (Culture), ban đầu được sử dụng chủ yếu đẻ chỉ học vấn, học thức, phép lịch sự. Theo sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội thì khái niệm nảy ngày cảng được mở rộng và phát triển trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. “Theo Đỗ Phi Hoài [1, 14] thì “Văn hóa được biểu thị như một phương thức hoạt động của con người, bao gồm toản bộ các sản phẩm từ vật chất đến tỉnh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người”. Theo UNESCO: “Văn hóa là tông thể sống động các hoạt động và sáng.
tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiểu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa nảy nhẫn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với n trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian đài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thủ của mỗi công đông, bản sắc riêng của từng dân tộc. Như vậy các khái niệm về văn hóa đều khá khác biệt, tùy thuộc rất nhiều vào lĩnh vực nghiên cứu và góc độ tiếp cận.
Trong phạm vi luận văn của mình, cách hiểu về văn hóa được thống nhất sử dụng như sau: “Văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị vat chất và tỉnh thần của con người trong các hoạt động trong môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, được lưu giữ và 12 truyền từ thế hệ này sang thể hệ khác, nhằm duy trì và phát triển đời sống của công đồng hướng đến cái đúng, cái tốt dep” [1, 16]. 'Văn hóa là một phạm trù đa dạng vẻ cách nhìn, cách tiếp cận. Văn hóa đầu tiên được thể hiện và có thẻ nhận diện bằng những dấu hiệu đặc trưng, đó chính là các biểu trưng bán sắc của văn hóa. Với sự phát triển của đời sống xã hội hiện nay, văn hóa còn được do lường bằng những tiêu chí, tiêu chuẩn, bằng các phương pháp định tính và định lượng khác nhau.2 - Khái niệm văn hóa tổ chức 'Văn hóa tổ chức (Organization Culture) được tích hợp từ hai khái niệm “van he ;à“tổ chức”.
Khi kết hợp văn hóa với tô chức, nghĩa của cụm từ. “van hóa tổ chức” đã được thu hẹp, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều phát biểu khác nhau: Văn hóa tổ chức lả thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tô chức được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức (Elliott Jaques, 1952). Văn hóa tô chức là hệ thống những ý nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi bởi những người lao động trong thời gian nhất định (Adrew Pettgrew, 1979). Văn hóa tô chức là một hệ thông ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên của tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác (Robbin, 2003).
Như vậy, văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niễm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của những người lao động trong tổ chức. Một điểm chung của những khái niệm về văn hóa tô chức là tất cả những khái niệm đều nhắn mạnh vào những phương tiện mang tính biểu đạt mà thông qua đó những giá trị trong văn hóa tô chức được truyền bá tới những. người lao động 'Những định nghĩa trên tạo nên quan niệm về văn hóa tô chức mà trong, thực tế được biểu đạt gắn liền với từng loại hình thẻ chế nghề nghiệp như văn 13 hóa công ty, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa bệnh viện, văn hóa công sở, văn hóa tổ chức tôn giáo. Từ các định nghĩa đó có thể nêu khái niệm tổng quan về văn hóa tổ chức như sau: Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tổ văn hóa được tô chức chọn lọc, tao ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đỏ tạo ra bản sắc riêng của tô chức [3, 15J.
Trong đó chọn lọc là việc gan lọc để loại bỏ những điểm bắt hợp lý, tiếp nhận những giá trị tốt đẹp để phổ biến trong tổ chức; tạo ra có nghĩa lả tiếp nhận những giá trị tốt đẹp, tạo ra quá trình chuyển hóa để sản sinh ra những biểu trưng, giá trị mới gắn với sắc. thái riêng biệt của chủ thể sáng tạo giá trị văn hóa. Sử dụng chính là việc ứng, dụng những giá trị, biểu tượng, các chuẩn mực văn hóa đã được chọn lọc để nâng cao hiệu quá hoạt động của tổ chức, tạo ra bản sắc riêng va thương hiệu riêng cho tổ chức. 'Văn hóa tô chức có vai trò gắn kết các thành viên trong tô chức, tạo ra sự ốn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng dẫn các thành viên của tô chức đi đến mục tiêu chung một cách tự giác và tự nguyện.
Các yếu tố văn hỏa của tô chức đóng vai trò như một cơ chế khäng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn và uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên với nhau, thành viên với tổ chức và giữa thành viên và lãnh đạo của tổ chức 1143 Khi lệm văn hóa doanh nghiệp Xã hội rộng lớn có một nền văn hóa lớn. Là một bộ phận của xã hội, mỗi doanh nghiệp cũng có một nên VHDN của riêng mình. Cũng như văn hóa, VHDN có rất nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh nó. Tất cả các khái niệm đó sẽ giúp chúng ta hiểu về VHDN một cách toàn diện và đẩy đủ hơn.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghỉ mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.Schein (2004), VHDN là tập hợp các giá trị, chuẩn mực 14 và niềm tin căn bản được tích lũy trong quá trình doanh nghiệp tương tác với môi trường bên ngoài và hòa nhập trong môi trường bên trong, các giá trị và chuẩn mực này được xác lập qua thời gian, được truyền đạt cho những thành viên mới như một cách thức đúng để tiếp cận, tư duy và định hướng giải quyết những vấn để họ gặp phải. (1998), VHDN bao gồm một tập hợp các thành tố như: các tạo tác hữu hình, giao tiếp, câu chuyện, huyền thoại, lễ nghĩ, hội họp, lễ hội, chuẩn mực hành vi, biểu tượng, hình tượng, giá trị, niềm tin, thái chuẩn mực, đạp đức, triết lý, lịch sử. Robbins & Judge (2011) cho ring: ban chat cia VHDN thé hién thong qua 7 đặc điểm căn bản sau: Sự đổi mới vả chấp nhận rủ ro; Sự quan tâm tới chỉ tiết, Sự định hướng vào kết quả; Sự định hướng tới con người; Sự định hướng làm việc nhóm; Sự quyết liệt và Sự ôn định. Cooke: “VHDN chính là những hành vi mà các thành viên tin rằng họ cần phái phủ hợp va dap ứng mong đợi trong tổ chức của họ”.
Theo Deal & Kennedy (2000) thì: “VHDN đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình”. Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị vả cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biển trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài. Các doanh nghiệp tạo dựng được văn hóa mạnh có hiệu quả hoạt động rất khác biệt so với các doanh nghiệp có văn hóa yêu(Kotter, J. cho ring: “VHDN la những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến vả tương đổi ồn định trong doanh nghiệp”.
Tại Việt Nam các nhà nghiên cứu về VHDN cũng đưa ra định nghĩa khác: Theo Duong Thi Liễu [12, 20]: “VHDN là một hệ thống các giá trị, các 15 chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chỉ phối hoạt động, của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp”. Tác giả Đỗ Minh Cương [3, 27] định nghĩa như sau: “VHDN là một dạng văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó” Theo Nguyễn Mạnh Quân [9, 35]: “VHDN là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng, đến cách thức hành động của các thành viên". “Theo cách khác có thể nói: Nếu doanh nghiệp là máy tính thì VHDN là hệ điều hành. Nói một cách hình tượng thì: Văn hóa là cái còn thiếu khi ta có.
tất cả, là cái còn lại khi tất cả đã mắt. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả va hệ thông nghiên cứu logic về văn hóa kinh doanh, có thể cho rằng: “J⁄#/DN là hệ thống các giá trị tỉnh thần và vật chất tạo nên bản sắc của doanh nghiệp, được doanh nghiệp tạo ra trong quá trình hình thành, phát triển và trong mỗi quan hệ tương tác với môi trường xà hội, tự nhiên. đồng thời có tác động tới nhận thức, hành vi của các thành vi trong doanh nghiệp” [I, 15] 1. Khái niệm phát ién van hóa doanh nghiệp.
+ Vai trò của văn hóa doanh nghiệp: Có thể nói VHDN tạo nên những nét phong thái, bản sắc riêng cho doanh nghiệp nó chứa đựng các yếu tổ kiến trúc, sản phẩm, tập tục, nghỉ lễ, thói quen, cách họp hảnh, chiến lược kinh doanh, logo, ấn phẩm, điển hình, giai thoại về người sáng lập doanh nghiệp.