Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DUY VẬT VÀ VÔ THẦN TRONG TRIẾT HỌC SPINÔDA 1. Spinôda với thời đại của ông 1. Điều kiện kinh tế- xã hội Tây Âu và Hà lan thời cận đại Vào thế kỷ XVII, chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn châu Âu đã đặt một nền móng vững chắc cho sự phát triển của mình. Sự phát triển của triết học duy vật giai đoạn này có liên hệ khăng khít với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, với những phát minh khoa học tự khoa học tự nhiên.
Kể từ khi có phát minh của Côpecních vào thế kỷ XVI, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh chóng hơn. Thời kỳ này khoa học tự nhiên có sự phát triển mạnh mẽ. Các môn khoa học tự nhiên (cơ học, thiên văn học, vật lý học…) đã dần tách ra khỏi thứ khoa học thống nhất trước kia. Thế kỷ XVII vật lý học dần trở thành một khoa học độc lập, hóa học cũng hình thành trong giai đoạn này.
Các khoa học phát triển nhanh chóng bắt đầu từ cơ học, nguyên nhân đầu tiên ở tính chất phát triển của kỹ thuật. Sự phát triển của cơ học đã đem lại một ý nghĩa nhận thức vô cùng to lớn. Hình thức chuyển động cơ học là hình thức đơn giản nhất trong số các hình thức chuyển động của vật chất mà người ta biết tới hồi đó. Các ngành khoa học tự nhiên khác đều phải quan tâm nghiên cứu tới hình thức chuyển động này.
Toán học cũng đạt được những thành tựu lớn; người ta đã xác định dưới hình thức toán học chính xác những định luật chuyển động cơ học của các vật thể. Những ngành khoa học khác còn đang trải qua thời kỳ tích lũy đầu tiên những tài liệu thực nghiệm. Những thành tựu đó là rất lớn trong nghiên cứu tự nhiên, phát hiện ra nhiều những thuộc tính mới, những quy luật mới của tự nhiên và của chính bản thân con người. Cùng với đó là sự phát triển của các phương pháp nghiên cứu của từng nghành khoa học đó, các phương pháp thí TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nghiệm, quan sát, phân tích, thực nghiệm đã trở thành những phương pháp nghiên cứu có hệ thống trong giới tự nhiên.
Những thành tựu trên đặt ra vấn đề cần phải đưa ra những kiến giải mới về thế giới, bản thể của thế giới, những quy luật vận động của thế giới và trong con người; vấn đề luận chứng cho tồn tại người, những thuộc tính trong tồn tại người v.v…phù hợp với những thành tựu của khoa học. Đồng thời gắn với đó cũng phải phê phán những quan điểm cũ, lỗi thời trước đây. Hàng loạt các lý thuyết kiến giải về bản thể tối hậu của thế giới, về nhân cách, về sự phát triển của con người, về các cơ chế xã hội đã ra đời. Các nhà tư tưởng giai đoạn này đã từ bỏ lối giải thích theo kiểu tôn giáo và luân lý mà hướng đến một sự phân tích mang tính kinh nghiệm và lối giải thích cơ giới đối với sự vận hành của thế giới tự nhiên và con người.
Những kiến giải mới này thực sự có những xung đột với những quan niệm cũ, đặc biệt trong các tín điều tôn giáo Trái với học thuyết kinh viện chủ nghĩa, các nhà tư tưởng giai đoạn này đã đưa ra yêu cầu tìm ra những nguyên nhân thực tế của các hiện tượng thực tế. Đó là một bước tiến quan trọng trong sự nhận thức thế giới vật chất. Galilê thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất. Thế giới ấy là vô tận và vĩnh viễn, không có đầu mà cũng không có cuối; không có cái gì trong tự nhiên bị tiêu diệt một cách tuyệt đối, và xuất hiện từ hư vô.
Galilê cho rằng Chúa sau khi đem lại cho giới tự nhiên một cái hích đầu tiên thì giới tự nhiên tồn tại theo những quy tắc riêng, những quy luật bất biến, hợp thành “trật tự tự nhiên của các sự vật”. Gaxenđi đã giáng một đòn nặng nề vào niềm tin Thiên chúa khi làm sống lại nguyên tử luận của Êpiquya và luận chứng rằng nguyên tử và khoảng không là cơ sở cuối cùng của thế giới, vì thế không còn chỗ dựa cho Chúa. Lôckơ thì cho rằng, cả ngàn năm qua, người châu Âu luôn viện đến những di sản văn bản để giải đáp những vướng mắc về luân lý và tôn giáo; người ta đã đưa ra những chiến lược lý giải, những phân biệt công phu để rút ra một tập hợp tín điều thống nhất và đặc biệt phức tạp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Đêcáctơ đề xuất nguyên lý chuyển động cơ học là không do ai sáng tạo ra và không bị tiêu diệt, ông mở rộng quan điểm này vào toàn vũ trụ, chuẩn bị một quan điểm khoa học về sự phát triển của giới tự nhiên, bởi vì nó không những bác bỏ quan niệm về “động lực thần thánh”, mà còn cố gắng xem xét các hiện tượng tự nhiên theo sự phát triển lịch sử của chúng, xuất phát từ chỗ thừa nhận tính vật chất của thế giới và thừa nhận thế giới phục tùng các quy luật khách quan.
Tuy nhiên, mặc dù Đêcáctơ chủ trương chống lại thần học nhưng nhị nguyên luận của ông rốt cuộc vẫn phải viện dẫn tới Chúa. Khi đưa ra luận điểm: Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại, ông muốn làm cho quan hệ nhận thức của con người với giới tự nhiên và với chính mình thoát khỏi mọi cái trung gian thần thánh. Luận điểm của ông biểu thị xu hướng định hướng lại quan niệm về chủ thể hiện thực của mọi hoạt động, đó là bước chuyển từ Chúa sang con người. Có thể nói phê phán là một đặc điểm nổi bật trong đời sống văn hóa tinh thần Tây Âu Cận đại.
Tuy nhiên, khi phê phán chế độ chuyên chế, nông nô, những đặc quyền đặc lợi và cái gắn với chúng là niềm tin, lý tưởng tôn giáo, các nhà tư tưởng giai đoạn này không phủ nhận tôn giáo nói chung. Họ cố gắng làm sự định hướng vào chủ nghĩa tích cực phù hợp với một khuôn khổ của những giá trị tinh thần xác định, chứ không phải là đơn giản vứt bỏ những giá trị tinh thần tự thân chúng. “Thái độ của văn hóa cận đại đối với những giá trị Thiên chúa giáo, việc xem xét chúng dưới một góc độ mới chính là một trong những đề tài quan trọng nhất của triết học giai đoạn này” [dẫn theo 7, tr. Trong khi đưa ra các quan niệm mới của mình về thế giới, con người, về nhận thức trên cơ sở của khoa học, các triết gia thời kỳ này vẫn chịu ảnh hưởng, vẫn kế thừa nhiều những giá trị của các quan niệm cũ truyền thống của tôn giáo.
Đây cũng chính là một nét định hướng quan trọng khi nghiên cứu tư tưởng giai đoạn này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Vào nửa thứ hai thế kỷ XVI ở Hà lan đã diễn ra cuộc cách mạng tư sản. Đó là một trong những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên. Đến giữa thế kỷ XVII, Hà lan cũng như Anh, đã là nước tư bản tiên tiến ở châu Âu.
Nhờ sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là của thương nghiệp và hàng hải, mà việc nghiên cứu khoa học đã được thúc đẩy và có nhiều điều kiện thuận lợi. Mặt khác, điều kiện tự nhiên của Hà Lan cũng khá đặc biệt, đất liền thấp so với biển, cho nên đòi hỏi phải có sự phát triển kỹ thuật, phải dựa vào tiến bộ của cơ học và vật lý học. Vì vậy, vào thế kỷ XVII Hà Lan là nước có kỹ thuật tiên tiến, cả kỹ thuật quân sự lẫn kỹ thuật dân dụng, có nền khoa học phát triển với toán học, thiên văn học, cơ học, vật lý học và có nền nghệ thuật hiện thực tiên tiến. Hà Lan là nước duy nhất thời đó mà số dân thành thị nhiều hơn số dân nông thôn, là nơi tập trung nhiều phong trào tinh thần tiên tiến.
Hà Lan, theo như Mác nói, là nước tư bản kiểu mẫn, tiên tiến nhất hồi thế kỷ XVII. Hà Lan đã giành được độc lập trong cuộc đấu tranh lâu dài chống lại nước Tây Ban Nha phong kiến- cơ đốc giáo, và sau đó chống nước Pháp và nước Anh. Một trong những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên đã nổ ra ở Hà Lan. Vào thế kỷ XVII, kinh tế của Hà Lan đã phát triển khá cao.
Đó là nước duy nhất khi ấy, trong đó số dân thành thị vượt số dân nông thôn rất nhiêu. Hà Lan ở thời đại bấy giờ là một nước lớn có nhiều tàu thủy và thuộc địa. Hà Lan có nhiều tầu thủy hơn tất cả các nước khác ở châu Âu cộng lại. Vào thế kỷ XVII, Hà lan là nước giầu nhất ở châu Âu.
Cuộc cách mạng tư sản Hà lan- một cuộc cách mạng làm cho công nghiệp và thương nghiệp phát triển khác thường, cũng đã làm cho nghệ thuật nẩy nở rực rỡ. Vào thế kỷ XVII xuất hiện phái hội họa cổ điển của Hà lan, thấm nhuần một nội dung mới, hiện thực chủ nghĩa. Đại biểu của khoa học tự nhiên ở Hà Lan ở thế kỷ XVII là những nhà bác học nổi tiếng như Uyghinxơ; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 trong số đại biểu của khoa học xã hội nổi bật là nhà lý luận về pháp quyền Huygô Gơrôxiút. Hà Lan khi ấy là nơi tập trung những phong trào tinh thần tiên tiến.
Ở đây có nhiều tự do tín ngưỡng hơn cả, và có những khả năng tương đối to lớn đối với thời đại bấy giờ để hoạt động về khoa học. Những thành tựu của khoa học và kỹ thuật ở Hà lan đã tạo nên mảnh đất thuận lợi cho sự phát triển của triết học. Chính ở đây suốt 20 năm.Đêcáctơ đã sống và làm việc, Hăngri Đơ Roa, người tiếp tục phát triển quan điểm duy vật của R.Đêcáctơ, cũng làm việc tại đây. Và tiếp đến là Spinôda.
Cuộc đời và những chặng đường khoa học của Spinôda Nghiên cứu tư tưởng triết học của Spinôda không thể không quan tâm tới cuộc đời và số phận của ông. Những biến cố trong cuộc đời cũng đã góp phần tạo nên những nét độc đáo trong tư tưởng triết học Spinôda. Ông sinh ngày 24 tháng 12 năm 1632 tại Amxtécđam, trong một gia đình thương gia khá giả. Cha ông đã quyết định cho ông học tập tại tu viện từ khi còn nhỏ để trở thành một nhà thần học Do Thái Giáo.