Chương 1, chúng tôi cũng tiền hành khái quát về việc sự. uất hiện đến cổ, din ích tong SGK Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay 11. Cơ sở lý thuyết Wu. Khải niệm ngôn ngữ, văn học và mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ với văn học 1LL1.L, Khái niệm “ngôn ng” “rong tiến tỉnh phát tiển của văn mình nhân lại, vẫn đỀ ngôn ngữ là gi đã tha hút được sự quan dang kể.
Ngôn ngữ là kết quả của một quá trình sing tạo lậu di, có tổ chức phức tạp bậc nhất và có những năng lực phục vụ cho con người vào loại kỳ diệu nhất trong tất cả những thứ mã con người sáng tạo ra bấy lâu nay. Ngôn ngữ vốn có nhiều đặc điểm thuộc những th diện khác nhau cho nên hẳu hết cắc sách nghiên cứu, các giáo trình giảng dạy về ngôn ngữ học đều đưa ra những “quan niệm của mình về Khái niệm này. Trong giáo trình Đẫn luôn ngốn ngữ hoc,. Vũ Đức Nghigu vi GS, Nguyễn Văn Hiệp có đưa ra nhận định về “ngôn ngữ” như sau: "Ngôn ngữ à một hiện tượng xã hội đặc bit; Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phất triển tong xã hội loài người do ý muốn và nhu cầu của chính loi người làphải giao dế với nhau trong qué trinh lên kế ác thể để tổ chức thành những cộng đồng.
và xã hội, để tồn tại và pháttứ n. Bên ngoài xã h i, ngôn ngữ không thẻ phát sinh. Ngôn ngữ không phải là hiện tượng của cá nhân tôi hay cá nhân anh mà là của chúng ta. Đồi với mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chế, được g gìn và phát trién tong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng đẳng.
Ngôn ngữ cũng không phải la hign twong sinh vat vi nó không mang tính đi truyền. Ngôn ngữ là một hiện tương xã hôi đặc biệ, Nó không thuộc về kiến trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào. Ngôn ngữ không mang tính giai cấp” [S7] 10 “rong cuỗn Ngón ngữ học đại cương: những nồi dung quan xắn, GS. Định Văn Đức Iai cho ring: "Ngôn ngữ là cô 1 giao tiếp, công cụ để tư duy, là chất iệu để biểu dạtý nghĩ của con người.
Ngôn ngữ là phương tiên diễn đạt tư duy và phương tiện giao tiếp tốt nhất được tạo ra theo nhu cầu của xã hội, phụng sự các lợi ch xã hồi, cũng là động lực cho sự phát triển. i va cing cho chinh bản thân n 221. “Từ các nhân định trên, có thể khẳng định, ngôn ngữ là một tổ chức chặt chế có hệ thống mã con người vận dung trong quá trình suy nghĩ, n năng để định hình, để biểu hiện và trao đôi những tư tưởng, tình cảm với nhau. Cơ cầu của ngôn ngữ.
bao gồm: Hệ thống ngữ âm; mặt âm thanh của lời nói, Hệ thống từ vụng - ngữ "nghĩa: tập hợp các đơn vị định danh sự vật, sự tình, biểu hiện các loại ý nghĩa khác nhau của từng từ ngữ; Hệ thống ngữ pháp: tập hợp các quy tắc, cách tổ chức sắp xép dé tạo nên đơn vị câu, đơn vị văn bản thể hiện chức năng thông báo.2 Khái niệm “văn học” Khái niệm “vin học" ban đầu chỉ là hình thức văn tự của văn học. Trong tiếng Latin, literature — item nghĩa là it efi, ura ng là “sự tổng hợp”: rong tiếng Hán, văn có nghĩa là "hội họp nhiều thứ mà thành văn chương có thể hiểu là Đài văn đưới dạng văn t. Thoát tha từ văn học đân gian và ra đời cũng với chữ viết để ghỉ chấp các văn thư nhà nước, văn học buổi đầu ở tong tình trang gọi sử bắt phân”. Người ta nói đến văn, thơ, phú nhưng chưa có khái niệm văn học như.
"một bộ môn nghệ thuật ngôn từ, Từ điền thuật ngữ văn học quan niệm về văn học shu sau: Van học là một sản phẩm lịch sử, văn học tự n cũng là một quá trình. Văn học chịu sự chỉ phối mạnh mẽ của đồi sống thực ti, chịu ảnh hưởng của các hình thai ý thức xã hội khác như chínhtrị đạo đc, triết học, tôn giáo, khoa ho. Những ảnh hướng cụ hể sẽ quy định bộ mặt văn học của mỗi thời. Văn học có thể phản nh quả trình vận động không ngừng cũa đời sng rong khôn 9 va thoi gian ở bắt giới hạn nào, Với chất iệu ngôn từ, văn học có khả năng ti hiện lời nồi và thế tr tưởng của con người [30] “Như vậy, cách hiểu khái quát nhất thi văn học là một loại hìn sé ding tac, tai hiện những vẫn để của đời sống xã hội và con người, ấy con người làm đổi tượng nhận thúc trung tâm, Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề ti được 1.
Mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học Lâu nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng như nghiền cứu văn học đều thống nhất cho rằng, ngôn ngữ và văn học có mỗi quan hệ chất chẽ, không th tách ri, Mi quan hệ khăng khít này có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những phương tiện vật chất cụ thể, nhưng cũng có thể biểu hiện qua mỗi quan hệ bên trong. Méi quan hệ bên trong này được hình thành từ một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, đồ là chức năng tư duy. C-Mắc từng nổi “Ngôn ngữ. là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”.
Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy. Nồi một cách khác, mọi hoạt động tr duy của con người đều thực hiện trên chất liệu của ngôn ngữ. Lênn ngoài việc đánh giá “Ngôn ngữ là công cu giao tiếp “quan trọng nhất của con người” còn nhắn mạnh đến chức năng quan trọng khác ngôn ngữ là chức năng tư duy. Lénin cho rằng: *không có tư tưởng nàoÌ a Tổng cả”.
Từ phương điện này, chúng ta nhận thấy, ngôn ngữ tham gi trực tiếp vào phần cốtlõi, phần én sâu trong văn học. Mỗi quan hệ này chỉ được bộc lộ Khi ta phân tích vai trỏ và chức năng của ngôn ngữ khi nó tham gia vào quá trnh hình thành nên một tác phẩm văn học cụ thể. Trên phương diện này, ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tr duy, là lĩnh hồn cho sự sảng tao ra các tác phẩm văn học mang sá nhân của mỗi ác giả mà còn là một phương tiện lưu giữ thông tin, truyền bá những kinh nghiệm từ thể hệ này qua thể hệ khác, Cụ th lã nhữ có ngôn ngữ làm, công cụ để tư duy, sáng tạo các tác phẩm văn học mới được ra đời, Nếu không có "ngôn ngữ thì không thể tư duy, không thể sáng tạo, các tác giả vì thể cũng Không thể cho ra đời các ác phẩm văn học mang nét sáng tạo riêng của cá nhân, phần ánh đồi sống hiện thực qua gốc nhì và tr duy cia tie gi. Xét cho cùng én sau bên trong các tác phẩm văn học cũng chứa đựng mỗi quan hệ u sắc với ngôn ngữ.
Nổi tới mặt biểu hiện bn ngoài cña mỗi quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ là nổi Gi khả năng quan sát được những sự liên quan giữa văn học và ngôn ngữ trên sơ sở những dấu hiệu, ký hiệu cụ thể. Ngôn ngữ là một hệ thẳng ký hiệu được hình thành từ những phản xạ không có điều kiện. Thực chất nó là ký hiệu của ký hiệu vả. là hệ thống tín hiệu thứ hai, chỉ con người mới ó được.
Hệ thống kỹ hiệu này chính là các phương tiên tao nên các sin phẩm văn hoá mang gi tr tỉnh thần, gi là văn oi ph vật thể. Trong văn học, ngôn ngữ là phương tiện ru tiếp cấu tình tác phẩm. Nó tham gia vào việc diễn đạt tư tưởng của nhà văn thông qua việc sử dụng Vũ, việc đặt câu và xây đựng văn bản nghệ thuật Hay có thể hi đơn giả rằng, nhìn tữ bên ngoi vào ác phẩm văn học a có thể thấy ỡ răng các tắc phẩm văn học được xây dựng nên từ ngôn ngữ, từ cách chọn lọ từ vựng, cách tổ chức sắp xếp câu cũ trong văn bản hay cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật đều bắt nguồn từ hệ thống ngôn ngữ. Ngôn từ là yếu tổ thứ nhất của văn học.
Sáng tạo, iẾp nhận và đánh giá văn học không th thu được yếu tổ ấy. Ngôn từ nghệ thuật (ngôn từ văn học) là một sự phân tỉng khác của ngôn ngữ tự nhiền, "tương xâm” nhưng không, đồng nhất với ngôn ngữ tự nhiên. Nếu ngôn ngữ tự nhiên thường mang tính ôn định, thì ngôn tử nghệ thuật đặc biệt là ngôn từ thơ - với tư cách là một *mã” nghệ thuật lạ luôn thay đổi. Mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu, khuynh hướng và mỗi tác giả lạ có cách sử dụng ngôn ngữ riêng để mang đến một “thục tí" và hình thức mới cho ngôn từ nghệ thuật.
Như: , cho đủ nhìn từ góc độ nào giữa văn học và ngôn "ngữ cũng là mỗi quan hệ không thể tách rồi. Mắt quan hệ Ấy được bộc lộ tên ắt cả các cấp độ ngôn ngữ khi được sử dụng vào văn học, cụ thẻ là từ cấp độ âm vị cho. đến cắp độ văn bản, 11. V8 dién cb, điễn tích 1.
Khai nigm dién 6, didn ích 4) Những vẫn đề về cách gọi tên khái niệm Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp hai ừ "điễn tich” và "điển cố”. Có thé hiểu một cách đơn giản nhất như sau: "Điển" là kinh điền, là thường, pháp tắc hay chủ trương, coi sóc việc gì đối “TÍEh” là xưa, trước, lâu, an đềm; Cổ l bền, vững bin, kin dio, sin, vin 43, nhiều lần (cỗ nhiên, tắt nhiên); Điển k là sự ích chếp tong sách vỡ xưa; Điển có: Diễn cũ ích xưa; sự ích, luật lệ Sử dụng điển có là một nét đặc thù của văn học trung đại. Tuy nhiên, có một điều bắt cập gây nhiều. khó khăn cho những người muốn nghiên cứu, tim higu v8 ĩnh vực này đó là cho tối "ngây nay vẫn chưa có một tên gọi thẳng nhất cho những điển xưa ích cũ.
Mỗi công, trình nghiên cứu của mỗi tác gid lai sử dụng một thuật ngữ khác nhau, Có một số tác giả sử dụng thuật ngữ “điễn ích” chẳng hạn như: Điển ii tuyện Kiểu của Pham Dan Qué [63], Điển ch chọn lọc của Mông Bình Sơn [68]. Ngoài ra, Nguyễn Thạch Giang còn gọi là "điễn nghĩa" trong cuỗn Điển ngiĩu vẫn học tập giải còn Đặng Dive Siêu thì lại gợi là “ngữ liệu” trong tác phẩm Ngữ li vấn lọc {66}. Mots tác giả khác th gọi chung à "điền cố" như: Điển cổ văn học do Đỉnh 'GGia Khánh chủ biên [40] hay Từ điển điển cố văn học điển cố thuyết minh của.