ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng và các cộng đồng sống gần rừng có mối quan hệ rất khăng khít và tác động qua lại lẫn nhau suốt chiều dài lịch sử. Rừng không những đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển từng quốc gia, khu vực và toàn thế giới mà còn là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân bao đời nay, đặc biệt đối với các cộng đồng sống trong và gần rừng. Ở chiều ngược lại, cộng đồng sống gần rừng là chủ thể thường xuyên có những tác động lên tài nguyên rừng, trực tiếp sử dụng các dịch vụ mà rừng mang lại, lấy đi các giá trị vật chất, đặt ra các giá trị tinh thần, bảo vệ và duy trì các giá trị đó để có thể hưởng dụng lâu dài. Chính vì vậy, mặc dù rừng là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện quản lý, tuy nhiên chính những cộng đồng sống trong và gần rừng mới là chủ thể có vai trò lớn trong việc sử dụng, bảo vệ, duy trì, phát triển hay hủy hoại nguồn tài nguyên này.
Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm thực hiện chủ trương giao đất giao rừng (GĐGR), và đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, nhất là trong lĩnh vực giao đất và rừng sản xuất. Quá trình chuyển đổi dần quản lý rừng tập trung của Nhà nước sang thừa nhận sự tham gia của cộng đồng dân cư đang trở thành một trong những phương thức quản lý phổ biến và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý của các lâm trường nhà nước, quản lý của các vườn quốc gia. (Nguyễn Quang Hòa Anh, 2009) Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế có tổng diện tích đất có rừng khá lớn 53.989,3 ha tương ứng với độ che phủ 83,3% ha trong đó diện tích đất có rừng tự nhiên là 48. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế chung của huyện.
Huyện c 2 Nam Đông cũng là huyện có diện tích rừng tự nhiên giao cho cộng đồng 5.736 ha chiếm 19,6% tổng diện tích được giao trên toàn tỉnh. Việc xác định vai trò của cộng đồng trong quá trình quản lý rừng ở địa phương có ý nghĩa quan trọng nhằm nắm rõ các loại hình và mức độ tác động của cộng đồng lên tài nguyên rừng, các mặt tích cực và tiêu cực của những tác động đó, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp giúp phát huy các mặt tích cực và hạn chế đi những mặt tiêu cực để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rừng trên địa bàn. Chính vì vậy đề tài “Nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” được tiến hành nghiên cứu. c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm về cộng đồng Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phương là nhóm người cùng sống trên một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau. [2003] Phạm Xuân Phương (2001) [9], trong báo cáo hội thảo quốc gia “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2001 cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một làng bản”. Theo điều 2 của Luật lâm nghiệp, 2017, thì Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán.
[12] Như vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thôn, làng bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung,… trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa cộng đồng địa phương là thôn, xóm. Vai trò của cộng đồng Theo D. Nghị (2012) [14] Cộng đồng đóng vai trò chủ thể của mọi hoạt động tại địa phương mình. Vai trò chủ thể được thể hiện ở việc các thành viên trong cộng đồng là người chủ động, tích cực và quyết định các hoạt động của cộng đồng.
c 4 Bởi vì họ: Hiểu rõ nhất về cộng đồng của họ, biết các khó khăn, thách thức và mong muốn của mình; Hiểu tiềm năng, lợi thế; Biết cách huy động và gắn kết các thành viên trong cộng đồng lại với nhau. Cộng đồng chịu trách nhiệm về kết quả các hoạt động của họ. Tăng cường sự tham gia của người dân địa phương trong tất cả các hoạt động là cách làm tốt nhất để phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của người dân. Các mức độ tham gia của cộng đồng Mức độ tham gia của người dân địa phương được mô tả theo các cấp bậc sau đây: (1) Tham gia thụ động: Làm theo sự chỉ bảo, không đưa ra bất kỳ ý kiến nào.
(2) Tham gia cung cấp thông tin: Chỉ trả lời câu hỏi của người làm công tác phát triển. (3) Tham gia tư vấn: Được hỏi ý kiến và được tiếp thu các ý kiến về những khó khăn, cơ hội phát triển của địa phương. (4) Tham gia thực hiện các hoạt động phát triển cộng đồng: Chủ động thành lập theo các nhóm tại cộng đồng để tổ chức các hoạt động phát triển tại địa phương. (5) Tham gia trong quá trình ra quyết định: Người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch và lựa chọn các phương án, hoạt động phát triển tại cộng đồng.
(6) Tham gia tự nguyện: Người dân tự khởi xướng hoạt động phát triển cộng đồng bao gồm việc xác định nhu cầu, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển mà không lệ thuộc vào bên ngoài. Tham gia tự nguyện là hình thức tham gia cao nhất trong phát triển cộng đồng. Khái niệm quản lý rừng cộng đồng và các hình thức quản lý rừng cộng đồng Quản lý rừng cộng đồng là quản lý tài nguyên rừng mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý. Những giải pháp quản lý rừng cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, chính sách pháp luật,… trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò cá nhân, thì các nước đang phát triển đặc biệt là vùng Châu Á - Thái Bình Dương vấn đề gia đình và cộng đồng lại được đánh giá cao.
Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Nghị, 2012) Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ). Theo FAO, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này. Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận.
Theo Dương Viết Tình, Trần Hữu Nghị, 2012 [14], Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng. Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Rừng của cộng đồng là rừng của thôn đã được quản lý theo truyền thống c 6 trước đây (quản lý theo các luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã được giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý. Những diện tích rừng này có thể Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế, mặc nhiên cộng đồng đang tự tổ chức quản lý sử dụng và hưởng lợi từ những khu rừng đó.
Như vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng, được hình thành chủ yếu thông qua chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn. Tóm lại hình thức quản lý này bao gồm các đối tượng chính sau: Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ từ lâu đời. Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng được Nhà nước giao. Các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức phục vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng.
Cũng cần nói thêm rằng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, có quy định nếu cộng đồng được giao rừng tự nhiên thì cộng đồng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu khu rừng đó và được thực hiện thông qua chính sách hưởng lợi từ rừng, đương nhiên nếu cộng đồng quản lý rừng trồng được hình thành bằng nguồn vốn tự có của mình thì cộng đồng có quyền sở hữu khu rừng đó. Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các tổ chức nhà nước hoặc các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng. c 7 Hình thức này có thể chia thành hai đối tượng: Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện nhằm tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp.