mở đầu cho pin mặt trời thế hệ I. Đã có nhiều cải tiến nhƣ thay silic đơn tinh thể bằng silic đa tinh thể, phủ các lớp chống phản xạ để ánh sáng đi vào tiếp xúc p-n nhiều hơn nhƣng hiệu suất pin mặt trời vẫn rất giới hạn, chỉ trong khoảng 10-20%. Tính toán lý thuyết theo định luật về giới hạn Shockley- Queisser: Chỉ với tiếp xúc p-n đơn giản thì hiệu suất pin mặt trời không thể cao hơn 30% [40]. Một mẫu pin mặt trời đa tinh thể Mặc dù có nhƣợc điểm là mang lại hiệu suất thấp, nhƣng bù lại pin mặt trời đa tinh thể có thể tạo thành các tấm vuông để phủ bề mặt với diện tích e 10 lớn hơn đơn tinh thể.
Do đó khắc phục đƣợc hạn chế về vấn đề hiệu suất. Ƣu điểm của pin mặt trời thế hệ I là hấp thụ đƣợc dãy quang phổ ánh sáng rộng và điện trở nội của pin nhỏ do đƣợc làm trên phiến Silicon. Theo báo cáo năm 2016 của Viện ISE của Đức, loại pin này chiếm 24% tổng công suất pin mặt trời trên toàn thế giới [12]. Tuy nhiên, nó có một số hạn chế nhƣ công nghệ chế tạo có giá thành cao, sử dụng nhiều năng lƣợng trong nuôi và cắt phiến Si, sử dụng nhiều hóa chất độc hại trong quá trình chế tạo, thành phẩm pin không hấp thụ đƣợc dãy tia xanh và tím, có hệ số kết hợp electron lỗ trống cao [15].
Pin mặt trời thế hệ II Pin mặt trời thế hệ 2 [40] có cấu tạo là những lát mỏng cắt từ các thỏi tinh thể silic, trên lát mỏng đó chỉ dùng một lớp rất mỏng để tạo tiếp xúc p-n. Mỗi lát mỏng tinh thể silic tuy chỉ dày chừng 200 micromet nhƣng cứng và giòn, chỉ có thể dán lên những tấm có bề mặt thật phẳng. Một mẫu pin mặt trời thế hệ II Pin mặt trời thế hệ 2 thƣờng đƣợc gọi là pin mặt trời màng mỏng (thin-film solar cell) hay pin quang điện màng mỏng (thin film photovoltaic), chỉ mỏng bằng cỡ 1% pin mặt trời thế hệ I, nghĩa là vào cỡ vài micromet. Phần lớn pin mặt trời thế hệ này cũng làm từ silic nhƣng là silic vô định hình (không phải là tinh thể), ngoài ra còn làm từ vật liệu khác nhƣ Cd-Te (cadimi teluarit), CIGS (Cu(In,Ga)(S,Se)2) và CZTSSe (Cu2ZnSn(SxSe1-x)4).
Pin mặt trời thế hệ này cực e 11 mỏng, nhẹ, dễ uốn nên có thể dán lên cửa sổ, kính ở những tòa nhà cao, mái ngói và mọi loại giá đỡ, kể cả kim loại, thủy tinh, polyme. Ƣu điểm là mỏng, nhẹ, dễ uốn, dễ dán vào bất cứ đâu nhƣng hiệu suất của pin mặt trời thế hệ II không cao, chỉ vào cỡ từ 7-12%. So sánh thì pin mặt trời thế hệ I loại cải tiến sau này có hiệu suất trung bình vào cỡ 15-20%, cao gần gấp đôi pin mặt trời thế hệ II. Pin mặt trời thế hệ III Pin mặt trời nano tinh thể Các tinh thể nano thƣờng dựa trên silicon, CdTe hoặc CIGS và các chất nền nói chung là silicon hoặc các chất dẫn hữu cơ khác nhau [41].
Một mẫu pin mặt trời nano tinh thể Pin mặt trời quang điện hóa (PEC) Các tế bào PEC sử dụng năng lƣợng ánh sáng (photon) để thực hiện phản ứng hóa học, trong trƣờng hợp này là tách nƣớc thành khí hydro (H2) và oxy (O2) [41]. Chúng bao gồm cực dƣơng và cực âm đƣợc nhúng trong chất điện phân và kết nối trong mạch ngoài. Thông thƣờng, cực dƣơng hoặc cực âm sẽ bao gồm một chất bán dẫn hấp thụ ánh sáng mặt trời và điện cực còn lại sẽ là kim loại. Các photon có năng lƣợng lớn hơn khoảng phạm vi dải bán dẫn có thể đƣợc hấp thụ bởi chất bán dẫn, tạo ra các cặp lỗ electron đƣợc phân tách bởi điện trƣờng trong vùng điện tích không gian giữa chất bán dẫn và chất điện e 12 phân.
Điện trƣờng phản ảnh lại độ cong của dải dẫn và vùng hóa trị ở bề mặt chất bán dẫn và cần thiết để cung cấp các sóng tải tự do cho điện cực thích hợp. Một mẫu pin mặt trời quang điện hóa Pin mặt trời tẩm chất nhạy quang (DSSC) Tấm pin DSSC dựa trên một chất bán dẫn đƣợc hình thành giữa cực dƣơng nhạy cảm với photon và chất điện phân, một hệ thống điện hóa photon [41]. DSSC có một số đặc tính hấp dẫn nhƣ sử dụng kỹ thuật in cuộn thông thƣờng để tạo ra nó, đặc tính bán linh hoạt và bán trong suốt giúp cung cấp nhiều cách sử dụng khác nhau. Mẫu pin mặt trời tẩm chất nhạy quang e 13 Ƣu điểm của pin mặt trời thế hệ III là quy trình và công nghệ chế tạo đơn giản, sử dụng ít năng lƣợng trong quá trình chế tạo, có thể sản xuất các tấm pin mặt trời mỏng, nhẹ với giá thành thấp, đặc biệt riêng pin mặt trời DSSC có khả năng sản xuất điện năng trong điều kiện ánh sáng yếu.
Đây chính là thế hệ pin mặt trời có ƣu thế cạnh tranh lớn nhất với thế hệ pin mặt trời sử dụng phiến silicon. Nhƣng khuyết điểm chung của các pin này là vật liệu sử dụng có năng lƣợng vùng cấm cao, hiệu suất chuyển hóa năng lƣợng thấp. Pin mặt trời thế hệ IV Pin mặt trời chấm lượng tử Pin mặt trời chấm lƣợng tử là loại sử dụng các chấm lƣợng tử làm vật liệu quang điện hấp thụ. Nó là thử nghiệm để thay thế các vật liệu khối lƣợng lớn nhƣ silicon, CIGS, CdTe hay CZTSSe.
Các chấm lƣợng tử có các vùng hóa trị có thể điều chỉnh đƣợc trong một phạm vi mức năng lƣợng bằng cách thay đổi kích thƣớc của các chấm. Đặc tính này làm cho các chấm lƣợng tử trở nên “hấp dẫn” đối với pin mặt trời đa điểm, trong đó nhiều loại vật liệu đƣợc sử dụng để cải thiện hiệu quả bằng cách thu hoạch nhiều phần của quang phổ mặt trời. Các chấm lƣợng tử là các hạt bán dẫn mà kích thƣớc của nó đủ nhỏ để làm xuất hiện các đặc tính cơ học lƣợng tử, chúng còn đƣợc gọi là “nguyên tử nhân tạo”. Các mức năng lƣợng này có thể điều chỉnh bằng cách thay đổi kích thƣớc của chúng, từ đó thay đổi vùng hóa trị [41].
Mẫu pin mặt trời chấm lƣợng tử e 14 Pin quang điện lai Pin điện năng lƣợng mặt trời lai kết hợp lợi thế của cả chất bán dẫn hữu cơ và vô cơ. Quang điện lai có các vật liệu hữu cơ bao gồm các polyme liên hợp hấp thụ ánh sáng nhƣ phần tử cho và các lỗ vận chuyển. Vật liệu vô cơ trong tế bào lai đƣợc sử dụng làm chất nhận và vận chuyển điện tử trong cấu trúc. Các thiết bị quang điện lai không chỉ có chi phí thấp mà còn có tiềm năng mở rộng trong tƣơng lai [41].
Mẫu pin mặt trời quang điện lai Ƣu điểm của pin mặt trời thế hệ IV là có kích thƣớc mỏng nên có thể kết hợp phủ nhiều lớp lên nhau để tạo thành pin hấp thụ nhiều dãy sóng ánh sáng khác nhau nhằm tăng hiệu xuất chuyển hóa năng lƣợng. Pin mặt trời thế hệ IV đƣợc sản xuất theo quy trình lỏng - tự sắp xếp, áp dụng đƣợc các quy trình công nghệ đơn giản nhƣ in phun, in lụa giúp giảm giá thành. Tuy nhiên hiệu suất chuyển hóa năng lƣợng của thế hệ pin này vẫn còn thấp so với pin mặt trời silicon trên nền wafer, polymer sử dụng trong pin thế hệ này cũng bị thoái hóa theo thời gian, làm hiệu suất của pin giảm theo thời gian sử dụng. Pin mặt trời đơn lớp và pin mặt trời đa lớp Sơ đồ hình 1.12 minh họa pin mặt trời đơn lớp với cấu trúc cơ bản đƣợc tạo nên từ một lớp tiếp xúc p-n [42].
Cấu trúc pin mặt trời đơn lớp Mỗi loại vật liệu bán dẫn thƣờng chỉ hấp thụ tốt một dải sóng ánh sáng với năng lƣợng nhất định. Để hấp thụ tối đa năng lƣợng ánh sáng từ mặt trời, ngƣời ta chế tạo pin mặt trời đa lớp, mỗi lớp sẽ hấp thụ một phần năng lƣợng trong toàn bộ dải sóng.13 minh họa cấu trúc cơ bản của pin mặt trời đa lớp [22]. Ngoài ra pin thƣờng có thêm các lớp đệm, lớp chống phản xạ, lớp điện cực cửa sổ,… nhằm nâng cao hiệu suất. Cấu trúc Pin mặt trời đa lớp CZTSSe và CIGS e 16 Ƣu điểm của pin mặt trời đa lớp so với pin mặt trời đơn lớp là có hiệu suất cao hơn.
Trong những công bố mới hiện nay cho thấy pin mặt trời đa lớp GaAs đạt hiệu suất lên đến 46% còn pin mặt trời đơn lớp GaAs chỉ đạt hiệu suất cao nhất khoảng 29,3% [20]. ĐẶC TÍNH LÀM VIỆC CỦA PIN MẶT TRỜI 1. Đặc trƣng I-V Đặc trƣng I-V của pin mặt trời là đƣờng cong biểu diễn mối quan hệ giữa dòng điện I và điện áp V của pin mặt trời khi nó hoạt động dƣới tác dụng của ánh sáng chiếu vào [3]. Đặc trưng I-V khi không chiếu sáng Khi không có ánh sáng chiếu vào thì pin mặt trời hoạt động nhƣ một lớp tiếp xúc bán dẫn p-n thông thƣờng.
Đặc trƣng I-V sẽ đƣợc khảo sát thông qua hai chế độ phân cực thuận và phân ngƣợc. * Khi pin mặt trời được phân cực thuận Trong trƣờng hợp này, lớp tiếp xúc p-n đƣợc đặt trong điện trƣờng ngoài Engoài hƣớng từ lớp p sang lớp n (cực dƣơng của nguồn áp đƣợc đặt vào lớp p và cực âm đƣợc đặt vào lớp n) ta gọi là phân cực thuận. Khi có điện trƣờng theo hƣớng thuận đặt vào, sự khuếch tán của các hạt tải đa số sẽ diễn ra dễ dàng hơn nên dòng điện khuếch tán Ikhuếch tán tăng trong khi đó dòng điện trôi Itrôi giảm, ta nói tiếp xúc p - n thông. Dòng điện di chuyển từ lớp p sang lớp n đƣợc gọi là dòng điện thuận Ithuận = Ikhuếch tán- Itrôi sẽ tăng.
Dòng điện Ithuận tăng, đồng nghĩa với điện trở lớp tiếp xúc p-n giảm. Điện trở lớp tiếp xúc p-n có giá trị nhỏ và đƣợc gọi là điện trở thuận (Rthuận).14 minh họa tác động của điện trƣờng ngoài đến vùng điện tích không gian của lớp chuyển tiếp p-n khi phân cực thuận (với d0’ là bề rộng vùng điện tích không gian khi phân cực thuận và d0 bề rộng vùng điện tích không gian khi không có điện trƣờng). Sự thu hẹp vùng điện tích không gian của pin mặt trời khi phân cực thuận và không đƣợc chiếu sáng Điện trƣờng Engoài sẽ sinh ra hiệu điện thế Ungoài và làm chuyển dịch các mức năng lƣợng vùng điện tích không gian. Ungoài ngƣợc chiều với điện áp tiếp xúc, do vậy làm giảm chiều cao rào thế còn UƩ = Utiếp xúc - Ungoài.