Chương 1: Cơ sở lý thuyết, những xu hướng nghiên cứu trên thế giới về vốn lưu động và các bằng chứng thực nghiệm về những nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động 1.1 Định nghĩa về vốn lưu động và những cách đánh giá nhu cầu vốn lưu động: • Thuật ngữ “Vốn lưu động” thường được dùng để chỉ những dòng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu về tiền của các hoạt động thường ngày của một công ty. Dòng vốn này có tính chất tuần hoàn, hay nói cách khác nó dùng để nói đến những tài sản ngắn hạn mà có khả năng thay đổi loại hình từ dạng tài sản này sang dạng tài sản khác tùy thuộc vào tốc độ luân chuyển, chẳng hạn một tài sản ngắn hạn khởi đầu dưới hình thái tiền, rồi thay đổi thành nguyên vật liệu, kế đến chuyển sang sản phẩm dở dang và thành phẩm, doanh số và cuối cùng lại được ghi nhận là tiền mặt thu được từ khách hàng. • Về mặt thống kê, VLĐ có thể được xem như là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn (không tính đến nợ vay ngắn hạn). Tuy nhiên, dựa trên tính chất tuần hoàn và luôn biến đổi của VLĐ, theo một cách tiếp cận khác, VLĐ còn có thể được xem như là khoản mục để cân bằng giữa hoạt động tạo doanh thu (income- generating activities) và hoạt động thu mua những nguồn lực đầu vào cho sản xuất kinh doanh (resources-purchasing activities).
Cách tiếp cận này nối kết VLĐ một cách trực tiếp với chu kỳ chuyển hóa tiền mặt của DN. • Trong tiếng Việt, thuật ngữ Vốn luân chuyển và Vốn lưu động được dùng tương hỗ nhau, dường như hai thuật ngữ này luôn được dùng thay thế nhau, khác nhau có thể do cách dịch hay do phương thức sử dụng riêng của từng nhà phân tích mà điều chỉnh các thành phần của nó. Tuy nhiên, do thuật ngữ Vốn luân chuyển thường được dùng để chỉ phần tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn dài hạn, mà cách tiếp cận này không tương thích với nhu cầu sử dụng của tác giả, nên tác giả sử dụng thuật ngữ tiếng Việt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 “Vốn lưu động” để dịch cho thuật ngữ tiếng Anh “Working capital” xuyên suốt bài luận văn này. • Những cách đánh giá nhu cầu vốn lưu động: Cách truyền thống: Nhu cầu VLĐ = các khoản phải thu + hàng tồn kho – (các khoản phải trả + những chi phí phải trả + các khoản phải trả khác) Cách tiếp cận đơn giản hơn nhằm nhấn mạnh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN: Nhu cầu VLĐ = các khoản phải thu thương mại + hàng tồn kho – các khoản phải trả thương mại Cách tiếp cận này được đề cập trong quyển “Tài chính doanh nghiệp – Những nguyên tắc và thực tiễn” (2010) của Denzil Watson và Antony Head; và nghiên cứu về VLĐ của Hill & các đồng tác giả năm 2010.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động: Những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động gồm có: • Bản chất hay đặc tính hoạt động của doanh nghiệp: Về mặt cơ bản, nhu cầu VLĐ của một công ty phụ thuộc vào bản chất của DN.
Có thể dễ dàng thấy được rằng những công ty dịch vụ công cộng cần ít VLĐ trong khi những công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại và tài chính thì cần lượng VLĐ rất lớn và các công ty sản xuất thì cũng cần có lượng VLĐ đáng kể. • Quy mô của doanh nghiệp/ quy mô hoạt động kinh doanh: Nhu cầu VLĐ của một công ty bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô DN hay quy mô hoạt động kinh doanh. Quy mô của DN càng lớn thì càng cần nhiều VLĐ. • Chính sách sản xuất: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Nhu cầu VLĐ cũng phụ thuộc vào chính sách sản xuất của một công ty.
Nếu công ty thực hiện chính sách ổn định sản xuất là trên hết bằng cách luôn tích lũy hàng tồn kho, thì nhu cầu VLĐ sẽ luôn ở mức cao. • Quy trình sản xuất/ độ dài của chu kỳ sản xuất: Trong các DN sản xuất, khối lượng VLĐ cần thiết tăng lên tương xứng trực tiếp với độ dài chu kỳ sản xuất. Chu kỳ sản xuất càng dài, thì càng cần nhiều VLĐ. • Những thay đổi mang tính thời vụ: Trong một số ngành công nghiệp nhất định, nguyên vật liệu thường không có sẵn cho cả năm (ví dụ: chế biến các loại nông sản).
Nói chung, trong các mùa cao điểm, DN cần nhiều VLĐ hơn các mùa thấp điểm. • Chu kỳ hoạt động: Hình 1.1: Sơ đồ minh họa chu kỳ hoạt động Các khoản Doanh thu phải thu Thành Tiền mặt phẩm Nguyên vật Sản phẩm liệu dở dang Độ dài của chu kỳ hoạt động có tính quyết định đến số lượng VLĐ của một công ty. Nếu chu kỳ hoạt động càng dài, thì số lượng VLĐ cần thiết càng tăng, và ngược lại. • Vòng quay hàng tồn kho: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Có mối quan hệ nghịch chiều ở mức độ cao giữa số lượng VLĐ và tốc độ luân chuyển các khoản mục hàng tồn kho mà có tác động đến doanh thu.
Một công ty có tốc độ vòng quay hàng tồn kho nhanh sẽ cần ít VLĐ hơn so với công ty có tốc độ vòng quay hàng tồn kho chậm. • Chính sách tín dụng: Khả năng thương lượng độ dài thời gian các khoản phải thu và các khoản phải trả của DN có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu VLĐ. Nếu một DN có thể mua chịu các nguồn lực đầu vào và thu tiền mặt ngay khi bán hàng, doanh nghiệp sẽ cần ít vốn lưu động hơn rất nhiều vì có thể tạo ra tiền mặt ngay khi ghi nhận doanh thu. • Chu kỳ kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh có ảnh hưởng đến những kế hoạch mở rộng và mức độ hoạt động kinh doanh của DN.
Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, nhu cầu VLĐ sẽ tăng lên do sự gia tăng trong doanh thu, giá cả hàng hóa, hay các kế hoạch mở rộng kinh doanh lạc quan của DN,… Ngược lại trong giai đoạn kinh tế khó khăn, có xu hướng sụt giảm trong các hợp đồng kinh doanh nên doanh thu sụt giảm, khó khăn trong việc thu hồi nợ và DN sẽ có nhiều VLĐ bị ách tắc trong chu kỳ hoạt động. • Khả năng tạo ra lợi nhuận của DN và chính sách cổ tức: Một số DN có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn một vài DN khác nhờ vào chất lượng sản phẩm, kinh doanh ở thế độc quyền, …, những công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận cao có thể tạo ra nhiều lợi nhuận bằng tiền từ hoạt động kinh doanh và đóng góp vào số lượng VLĐ. Chính sách cổ tức cũng được xem là có thể ảnh hưởng nhu cầu VLĐ. Một công ty duy trì chính sách cổ tức ổn định ở mức cao bất kể khả năng tạo ra lợi nhuận sẽ cần nhiều VLĐ hơn là một công ty giữ lại phần lớn lợi nhuận và không chi trả cổ tức ở mức cao.
• Các nhân tố khác: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Một vài nhân tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến nhu cầu VLĐ là: thay đổi trong giá cả hàng hóa, hiệu quả hoạt động, khả năng của đội ngũ quản lý, những thay đổi bất thường trong nguồn cung đầu vào, kết cấu tài sản, chính sách nhập khẩu, hạn mức tín dụng được cấp bởi ngân hàng, v.2 Những xu hướng nghiên cứu trên thế giới về vốn lưu động và các bằng chứng thực nghiệm về những nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động: 1.1 Tóm lược các xu hướng nghiên cứu quốc tế về vốn lưu động: Trong quá trình tìm hiểu các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến VLĐ, tác giả nhận thấy có thể phân chia xu hướng nghiên cứu về VLĐ như sau: • Nghiên cứu về những nhân tố tác động (quyết định) đến nhu cầu VLĐ • Nghiên cứu toàn diện về quản trị VLĐ • Nghiên cứu về các thành phần riêng biệt của quản trị VLĐ, chẳng hạn quản trị hàng tồn kho, quản trị các khoản phải trả, quản trị các khoản phải thu, các vấn đề xoay quanh chu kỳ chuyển hóa tiền mặt… • Các nghiên cứu không tập trung vào các đề tài truyền thống nêu trên Trong đó hầu hết các tác giả quốc tế đều tập trung nghiên cứu vào các vấn đề xoay quanh việc quản trị VLĐ, đặc biệt là mối quan hệ giữa quản trị VLĐ và lợi nhuận. Ở Việt Nam, người viết chỉ tìm thấy được các nghiên cứu liên quan đến VLĐ và quản trị VLĐ cho từng trường hợp DN cụ thể, và chưa tìm thấy các bài nghiên cứu mang tính tổng quát về VLĐ. Vì thế, người viết lựa chọn xu hướng nghiên cứu về những nhân tố tác động đến nhu cầu VLĐ tại Việt Nam là bước nghiên cứu đầu tiên mang tính khái quát về VLĐ, làm nền tảng cho các nghiên cứu sâu rộng hơn trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về những nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động: Tác giả không tìm thấy nhiều bài nghiên cứu quốc tế liên quan đến xu hướng nghiên cứu này, nhưng có thể liệt kê một vài bài nghiên cứu tiêu biểu như sau: 1.1 Bài nghiên cứu của Nazir, M.
(2009): “Nhu cầu vốn lưu động và những nhân tố quyết định ở Pakistan” • Tóm tắt mục đích và phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu này kiểm tra các nhân tố mang tính chất quyết định đến Nhu cầu VLĐ của công ty. Với mục đích này, các tác giả thực hiện một cuộc nghiên cứu về 132 công ty sản xuất thuộc 14 nhóm ngành công nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi (KSE) trong khoảng thời gian từ 2004-2007.