CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ 1. TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ 1. Khái niệm quỹ đầu tư: Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006 quy định: “Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ”. Quỹ đầu tư là một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp do các nhà đầu tư cùng góp vốn.
Từ những khoản tiền tiết kiệm, nhàn rỗi phân tán trong dân chúng được tập trung lại thành các nguồn vốn lớn cho các nhà chuyên nghiệp sử dụng trong lĩnh vực đầu tư kiếm lời và phân chia cổ tức cho các cổ đông góp vốn. Các khoản tiền tiết kiệm này thay vì được các nhà đầu tư tự đầu tư riêng lẻ thì lại được góp vào quỹ đầu tư để thực hiện việc đầu tư tập thể. (Giáo trình thị trường chứng khoán – PGS.TS Bùi Kim Yến – Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM) Tất cả các quỹ đầu tư đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và các cơ quan thẩm quyền khác. Khái niệm công ty quản lý quỹ: Công ty quản lý quỹ (QLQ) là một loại hình tổ chức trung gian tài chính, chuyên thành lập và quản lý các quỹ đầu tư, phục vụ nhu cầu đầu tư trung và dài hạn của công chúng.
Theo khái niệm về công ty QLQ đầu tư (Fund Management) tại TTCK Mỹ, công ty QLQ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lý các quỹ đầu tư. Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần. Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ. Người QLQ đuợc toàn quyền quản lý danh mục đầu tư, mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu đầu tư của quỹ.
-2- Ở Việt Nam, theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Công ty QLQ (Ban hành kèm theo Quyết định số 35/ 2007/QĐ-BTC ngày 15/5/2007 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính): “Công ty QLQ, là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ QLQ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Ngoại trừ Công ty QLQ được cấp phép, các tổ chức kinh tế khác không được cung cấp dịch vụ QLQ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư”. Theo nội dung của Quy chế thì công ty QLQ và quỹ đầu tư chứng khoán là hai thực thể được cơ cấu và tổ chức khác nhau. Về nguyên tắc, công ty QLQ cùng lúc có thể khai sinh và quản lý nhiều quỹ độc lập nhau.
Đồng thời có sự độc lập cả về tài sản, các nghĩa vụ tài chính giữa công ty QLQ và một quỹ đầu tư nào đó. Người điều hành quỹ là người được công ty QLQ chỉ định để trực tiếp điều hành hoạt động của một quỹ. Trong khi công ty QLQ được tổ chức và hoạt động như một doanh nghiệp, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có hội đồng quản trị và hệ thống hành chính nhân sự… thì quỹ đầu tư là một tập hợp có điều lệ và tài sản độc lập nhưng không có bộ máy điều hành riêng gắn trực tiếp với nó. Quỹ đầu tư không có pháp nhân mà chỉ có “đại hội những người đầu tư” do công ty QLQ hoặc ngân hàng giám sát triệu tập có điều kiện và tùy thuộc vào tình huống được nêu trong Quy chế.
Các rủi ro trong hoạt động của Quỹ đầu tư: Là một hình thức đầu tư nên việc đầu tư qua Quỹ cũng chứa đựng các rủi ro: Rủi ro thị trường: Rủi ro này phát sinh khi các thị trường tài sản mà quỹ đầu tư có sự suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian. Rủi ro này thuộc rủi ro mang tính hệ thống nằm ngoài khả năng kiểm soát của công ty QLQ. Rủi ro lãi suất: Chứng chỉ quỹ (CCQ) đầu tư cũng là một công cụ đầu tư nên bị ảnh hưởng bởi yếu tố lãi suất. Lãi suất làm chi phí đầu vào các doanh nghiệp tăng, mức lãi suất mong đợi tăng sẽ làm giảm giá trị cổ phiếu, giảm giá CCQ cũng như giá trị đầu tư vào trái phiếu và ngược lại.
Rủi ro lạm phát: Lạm phát làm tăng chi phí đầu vào, tăng lãi suất danh nghĩa do đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và CCQ đầu tư. Rủi ro về lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào, -3- do vậy sẽ ảnh hưởng kết quả lợi nhuận., ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và khoản đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp. Rủi ro mất khả năng thanh toán của tổ chức phát hành trái phiếu/công cụ nợ: Rủi ro mất khả năng thanh toán có thể xảy ra đối với các tổ chức phát hành trái phiếu hoặc công cụ nợ khác nếu có các khoản đầu tư của quỹ. Rủi ro này phát sinh khi các bên phát hành công cụ nợ mất khả năng thanh toán lãi suất hoặc tiền gốc đối với các khoản vay.
Rủi ro thiếu tính thanh khoản: Quỹ dành phần lớn tổng tài sản đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tư nhân cổ phần hóa. Các khoản đầu tư này chỉ có tính thanh khoản cao khi cổ phiếu này có khả năng được giao dịch trên TTCK. Phần lớn những DNNN sẽ được niêm yết sau khi cổ phần hóa theo quy định của Nhà nước, tuy nhiên khoảng thời gian giữa việc cổ phần hóa và niêm yết là yếu tố khách quan mà công ty QLQ khó có thể chủ động được. Rủi ro pháp lý: Các hoạt động chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán và TTCK được Chính phủ điều chỉnh trong các văn bản pháp lý ban hành vào năm 1998.
Năm 2006, trước sự bùng nổ của TTCK và việc Việt Nam gia nhập WTO, nhiều văn bản pháp lý về TTCK đã được Chính phủ ban hành như Luật chứng khoán, các nghị định hướng dẫn, quy chế hoạt động. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những rủi ro nhất định liên quan đến yếu tố pháp lý như: sự phù hợp với các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO, các quy định về thuế đối với các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và chứng khoán, chế độ kế toán QLQ, các chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán và tài chính chưa đủ mạnh để có thể thu hút nhiều hơn các khoản vốn nhàn rỗi trong công chúng vào nền kinh tế. Rủi ro xung đột lợi ích: Công ty QLQ cũng sẽ gặp phải những xung đột nhất định về lợi ích giữa các quỹ đầu tư và các sản phẩm tài chính khác do công ty QLQ điều hành. Rủi ro này thuộc dạng rủi ro không hệ thống, có thể kiểm soát được.
Rủi ro về tiến độ giải ngân: Quá trình phân bổ tài sản của quỹ vào các công ty đã niêm yết hoặc chưa niêm yết sẽ phụ thuộc nhiều vào tiến độ thực hiện của cổ -4- phần hóa, quyết định chấp thuận được niêm yết của các công ty theo chính sách của Chính phủ và Nhà nước. Rủi ro giảm sút giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ: Rủi ro này phát sinh chủ yếu do sự giảm giá của các loại cổ phiếu trên thị trường phi tập trung (OTC) và cổ phiếu niêm yết trên TTCK mà Quỹ đầu tư. Khi đó, NAV của Quỹ sẽ bị giảm sút và ảnh hưởng trực tiếp đến thị giá của CCQ trên thị trường. Vai trò và sự cần thiết của quỹ đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế: Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, Quỹ đầu tư có nhiều điểm nổi bật so với các trung gian tài chính khác với vai trò: Huy động vốn cho phát triển kinh tế: - Để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn.
Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư nhằm chuyển vốn từ tiết kiệm vào đầu tư. Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua Quỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực Nhà nước. - Không những thế, các quỹ đầu tư còn khuyến khích được dòng chảy vốn nước ngoài. Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư.
Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, Quỹ đầu tư góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng như tăng cường sức mạnh trong nước ở các liên doanh. Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư: - Đa dạng hoá danh mục đầu tư – giảm thiểu rủi ro: Việc phân tán rủi ro đối với một khoản tiền khiêm tốn sẽ vấp phải vấn đề trị giá của các chứng khoán trong danh mục đầu tư hay độ lớn của các dự án, nhất là các chứng khoán được niêm yết trên sở giao dịch thường được giao dịch theo lô chẵn. Tập hợp được vốn của nhiều nhà đầu tư, quỹ đầu tư có quy mô đủ lớn để có thể đầu tư vào nhiều ngành nghề, -5- nhiều khu vực địa lý và nhiều công ty khác nhau. Như vậy, tham gia vào quỹ đầu tư, nhà đầu tư có thể gián tiếp đa dạng hóa đầu tư của mình để giảm thiểu rủi ro trên cơ sở phân tán đầu tư và tăng hiệu quả đầu tư.
Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư duy trì được sự tăng trưởng tốt ngay cả khi có một vài hạng mục hay loại tài sản trong danh mục bị giảm giá, còn các hạng mục hay tài sản khác lại tăng giá hơn mức mong đợi, tạo ra sự cân bằng cho danh mục. Bởi vì với những đặc điểm hoạt động của các ngành nghề khác nhau sẽ có chu kỳ tăng trưởng và suy thoái khác nhau, việc đầu tư vào nhiều những hạng mục hay nhiều loại tài sản giúp cho mức lợi nhuận của danh mục luôn ở mức cân bằng.