ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, việc quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng theo hình thức lâm nghiệp truyền thống không còn phù hợp. Hình thức quản lý này chỉ phù hợp khi tài nguyên rừng còn nhiều, dân số ít, nhu cầu đòi hỏi của con ngƣời về lâm sản còn thấp hơn nhiều so với khả năng cung cấp của tự nhiên. Mặc dù Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành rất nhiều chính sách và pháp chế lâm nghiệp. Song các chính sách đó vẫn có phần không mang lại hiệu quả cao.
Những chính sách đó còn mang tính tách rời sự tham gia của cộng đồng, nhiều khi những văn bản pháp luật đó chỉ xuất phát từ lợi ích của Nhà nƣớc mà không tính đến lợi ích của ngƣời dân và cộng đồng nên không đƣợc ngƣời dân ủng hộ và thực hiện. Với cách quản lý và bảo vệ đó, ngƣời dân không thực sự là ngƣời làm chủ tài nguyên rừng nên không những không bảo vệ và phát triển đƣợc rừng mà rừng ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng. Những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng trong những năm qua chủ yếu là do cách quản lý chƣa hợp lý của Nhà nƣớc. Bên cạnh đó cũng do rất nhiều nguyên nhân khác nhƣ: Sự bùng nổ dân số làm tăng nhu cầu lƣơng thực, chất đốt.
Do vậy ngƣời dân phải phá rừng để mở rộng diện tích đất canh tác và thoả mãn nhu cầu cho việc sử dụng chất đốt của họ và do tập quán du canh du cƣ, đốt rừng làm nƣơng rẫy của các dân tộc thiểu số. Thạch Thành là huyện nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, có diện tích rừng và đất rừng là 28.250,89 ha, trong đó: rừng đặc dụng 4.669,60 ha; rừng phòng hộ 6.526,14 ha; rừng sản xuất 17. Thạch Thành là một huyện vùng núi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp, nhìn chung thu nhập của ngƣời dân trên địa bàn huyện còn bấp bênh, phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, trình độ dân trí thấp, sản xuất nông - lâm nghiệp lạc hậu, nên công tác quản lý bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp. Hiện nay trên địa bàn huyện công tác quản lý bảo vệ rừng chủ yếu dựa vào Hạt Kiểm lâm Thạch Thành, chủ rừng nhà nƣớc và Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng, trong đó Hạt Kiểm lâm huyện đóng vai trò quan trọng.
c 2 Bên cạnh những nỗ lực để nâng cao diện tích rừng trồng, tăng cƣờng công tác quản lý bảo vệ rừng tự nhiên hiện có của huyện Thạch Thành, tình trạng vi phạm luật bảo vệ rừng và phát triển rừng vẫn và đang xẩy ra dƣới nhiều hình thức khác nhau và ngày tinh vi hơn. Điều này khẳng định việc tìm hiểu vấn đề và nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trong cả nƣớc là điều rất quan trọng và cấp bách hiện nay. Xuất phát từ thực tế trên, trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá” nhằm góp phần bảo vệ hiệu quả hơn diện tích rừng trên địa bàn và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân trên địa bàn huyện Thạch Thành. c 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Theo FAO, cộng đồng đƣợc định nghĩa nhƣ là “những ngƣời sống tại một chỗ, trong một tổng thể hoặc là một nhóm ngƣời sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” còn lâm nghiệp cộng đồng đƣợc định nghĩa là “Là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà ngƣời dân địa phƣơng tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”. Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài ngƣời. Tuy nhiên sự thống trị của chế độ thực dân của ngƣời Châu Âu diễn ra trên diện rộng và kéo dài cho tới thế kỷ 20 đã có những ảnh hƣởng tiêu cực đối với hệ thống quản lý cây và rừng cổ truyền ở nhiều địa phƣơng. Chính sách thực dân đã đập tan các hệ thống quản lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phƣơng cùng với những nguồn kiến thức bản địa về tài nguyên và hệ sinh thái nơi đó.
Trong thời gian hậu thuộc địa, nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hƣởng của những lực lƣợng từ bên ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới. Một thực tế mà chúng ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân cƣ không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy đƣợc trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho ngƣời dân, cộng đồng đƣợc hƣởng lợi từ rừng, khi đó những vấn đề nhƣ đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần đƣợc đẩy lùi và cộng đồng địa phƣơng sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân cƣ sống phụ thuộc vào rừng. Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều các nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, cách tiếp cận, áp dụng công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý dựa vào rừng cộng đồng.
Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.1 Châu Á Rừng ở Châu Á đƣợc coi là một trong những tài nguyên công cộng quan trọng nhất, quản lý rừng tập thể bàn tới mọi phƣơng thức quản lý rừng dựa trên cơ sở nhóm. Nó gồm bất cứ tình huống nào, trong đó trách nhiệm quản lý đã đƣợc giao cho một nhóm hoặc tập thể đặc biệt nhƣ dòng họ, bộ tộc hoặc đẳng cấp (quản lý thôn xã), một làng bản hoặc cộng đồng… Quản lý rừng tập thể bàn tới cách sắp xếp theo đó một số nhóm ngƣời nhất định sẽ nắm lấy một số quyền về đất và cây rừng cùng với những sản phẩm của chúng. Trách nhiệm quản lý rừng đƣợc giao chung cho một nhóm địa phƣơng. Nhƣ vậy, quản lý rừng tập thể cở sở dựa trên sở hữu công cộng hoặc quyền lợi đƣợc giao cho những tổ chức chung, thƣờng gắn với những nhóm nhỏ nhƣ thôn bản hoặc dòng họ [23,T28].
Quản lý rừng cộng đồng ở Châu Á thƣờng đƣợc quan tâm chú ý ở một số nƣớc nhƣ: - Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thƣờng gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh. Khi tìm hiểu tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét chung và chúng thƣờng có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ. Các chỉ tiêu về quy chế tổ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những ngƣời sử dụng là phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản lý rừng bản địa. Và những hệ thống quản lý rừng bản địa này chỉ mới đƣợc xây dựng từ năm 1950.
Từ năm đó tới nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh hƣởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay. Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhƣng việc đó đã thất bại. Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho chính những ngƣời sử dụng chúng ở thôn bản. Arnold (1986) [23] đã trình bày những tiến bộ mà chính phủ Nepan đạt đƣợc khi tổ chức lâm nghiệp cộng đồng tại vùng đồi của Nepan thông qua dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng qua báo cáo “Quản lý tập thể rừng vùng đồi ở Nepan: Dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng” Mục tiêu của dự án này là tăng thêm nguồn c 5 cung cấp củi, thức ăn gia súc, cỏ và gỗ thông qua việc trao trách nhiệm rộng hơn về quản lý và bảo vệ rừng cho các cộng đồng địa phƣơng.
Tài liệu này có nói tới một sáng kiến của Nepan đã đƣa ra một khuôn khổ có khả năng vận dụng đƣợc để phát triển các hệ quản lý rừng sản xuất địa phƣơng thích hợp với các nhu cầu hiện nay, khuôn khổ đó xây dựng trên các truyền thống và phƣơng thức địa phƣơng để quản lý rừng cộng đồng. Số liệu điều tra cho thấy rằng rừng đƣợc nhiều sự ảnh hƣởng tốt khi có sự quản lý tích cực của ngƣời sử dụng địa phƣơng. Rừng đƣợc cải thiện rõ khi có sự kiểm tra thu hoạch của địa phƣơng do các cộng đồng đề ra những quy định thời gian và các diện tích có hạn chế và các công cụ đƣợc phép sử dụng, ngƣợc lại rừng tiếp tục bị thoái hóa khi chỉ có chính phủ đề ra các kiểm tra theo thƣờng lệ nhƣ lệ phí mà ngƣời sử dụng phải trả và bài cây để chặt hạ. Mặc dù những kinh nghiệm của chƣơng trình này đến nay vẫn còn hạn chế nhƣng những việc đã làm đƣợc của chƣơng trình này cũng coi là một sự khởi đầu đáng phấn khởi.
Hobley (1987) Lâm nghiệp cộng đồng không nên đƣợc định nghĩa bằng quy mô hoặc sản phẩm cuối cùng mà ở chỗ là quyền đề xuất quyết định nằm ở đâu. Sự tham gia và kiểm tra của dân trong việc thành lập, duy trì, hƣởng lợi và phân phối các lợi ích là những lợi ích tiên quyết cho một chƣơng trình lâm nghiệp cộng đồng đúng đắn. Kết quả điều tra cụ thể tại hai thôn bản của Nepan thông qua Dự án lâm nghiệp song phƣơng giữa Nepan và Australia là dân bản luôn luôn coi rừng là tài sản sở hữu của cộng đồng, tuy nhiên lâm nghiệp cộng đồng muốn có đƣợc những thành công thì cần phải có sự thay đổi sâu sắc về mặt xã hội tại Nepan.C và Hobley (1989) [23] đã mô tả hai kiểu động cơ khác nhau nhƣng song song tồn tại bên nhau trong phát triển lâm nghiệp ở Nepan đó là: “Phát triển lâm nghiệp hƣớng về trung ƣơng” và “Phát triển lâm nghiệp hƣớng về ngƣời dân”.