Phần mở đầu. Tổng quan giải pháp bảo vệ mái đê biển. Nghiên cứu đề xuất kết cấu phù hợp cho đê biển Nam Đình Vũ - Hải Phòng. Áp dụng để thiết kế đê lấn biển Nam Đình Vũ.
Kết luận và kiến nghị. Tài liệu tham khảo. TỔNG QUAN GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÁI ĐÊ BIỂN 1. Tổng quan về giải pháp bảo vệ mái đê biển trên thế giới 1.
Đá lát khan, mảng bê tông, cấu kiện bê tông lắp ghép tự chèn Phổ biến nhất vẫn là các hình thức bảo vệ mái bằng đá đổ, đá lát khan, cấu kiện bê tông đúc sẵn, cấu kiện bê tông lắp ghép với các dạng liên kết khác nhau. 1: Đê biển Afsluitdijk –Hà Lan Cấu kiện bê tông tự chèn là dùng các cấu kiện bê tông có kích thước và trọng lượng đủ lớn đặt liên kết tạo thành mảng bảo vệ chống xói cho mái phía biển do tác động của sóng và dòng chảy. Để gia tăng ổn định và giảm thiểu kích thước cấu kiện người ta không ngừng nghiên cứu cải tiến hình dạng cấu kiện và liên kết giữa các cấu kiện theo hình thước tự chèn. Kết cấu loại này dễ thoát nước, dễ biến dạng cùng với đê nên có độ ổn định của kết cấu tương đối cao.
2: Cấu kiện bê tông lắp ghép 5 Các cấu kiện bê tông gia cố đúc sẵn sử dụng phổ biến hiện nay sang dạng “cột”. Với các nước phát triển, vì có điều kiện kinh tế nên các cấu kiện gia cường trước kia không đảm bảo trọng lượng được bóc bỏ, thay thế bằng các cấu kiện dầy hơn, nặng hơn. Tính đến thời điểm hiện tại, gia cố mái đê biển bằng các cấu kiện bê tông đúc sẵn vẫn phổ biến nhất do các ưu điểm nổi trội về sự ổn định của mảng gia cố dưới tác động của sóng và dễ thi công, thuận tiện cả dùng thi công cơ giới. Gia cố mái đê bằng nhựa đường (Bituminous Revetments) Hàng thế kỷ trước đây, vật liệu nhựa đường đã được sử dụng ở vùng Trung Âu vào việc làm kín nước.
Vào năm 1893, Italy dùng nhựa đường phủ mái đập đá đổ. Năm 1934 Hà Lan dùng nhựa đường phủ đáy âu thuyền Fuliana. Sau cơn bão 1953, Hà Lan đã sử dụng bê tông nhựa đường vào xây dựng đê biển. Vật liệu này thường dùng kết hợp với vật liệu khác để gia cường, chẳng hạn nhựa đường - đá xếp, nhựa đường - bê tông khối, bê tông Asphalt ứng dụng trong xây dựng công trình thủy lợi, đê biển của nhiều nước tiên tiến như Nauy, Hà Lan, Mĩ và một số nước khác.
3: Kè đê biển đá xếp phủ nhựa đường 1. Thảm bê tông Các cấu kiện bê tông được nối với nhau tạo thành mảng liên kết. Các cấu kiện này liên kết với nhau bằng dây cáp, bằng các móc, giữa các cấu kiện thường đệm 6 bằng cao su, hoặc lấp đầy bằng sỏi, gạch xỉ. Phải bố trí tầng lọc ngược giữa thảm bê tông với thân đê.
Cấu kiện kiểu này thường xuyên được cải tiến về hình dạng và liên kết giữa các cấu kiện.5 thể hiện thảm bê tông đang được thi công trên một đoạn đê, bên dưới lót vải địa kỹ thuật làm lọc. Sau khi thi công xong thảm bê tông, tra cỏ vào các hốc bê tông để tạo cảnh quan môi trường. 4: Thảm bê tông liên kết bằng dây cáp Hình 1. 5: Thảm bê tông làm kè đê biển Hà Lan 1.
Thảm đá Các rọ bằng thép bọc chất dẻo hoặc chất dẻo trong đựng đầy đá gọi là “thảm đá”. Thảm đá dùng để chống xói cho đê và bờ sông, bờ biển do tác động của sóng 7 và dòng chảy. Ý tưởng của kết cấu này là liên kết đá nhỏ lại thành khối lớn để sóng và dòng chảy không phá hỏng được. 6: Kè bằng thảm rọ đá 1.
Thảm bằng các túi địa kỹ thuật chứa cát Các túi địa kỹ thuật được bơm đầy cát đặt trên lớp vải địa kỹ thuật, liên kết với nhau thành một hệ thống gọi là thảm túi cát để bảo vệ mái dốc của đê, bờ sông, bờ biển. 7: Kè bằng thảm túi vải địa kỹ thuật 1. Hệ thống ống địa kỹ thuật chứa cát 8 Sử dụng ống địa kỹ thuật, có đường kính từ 0,5m đến 2,5m, kích thước tùy thuộc vào yêu cầu công trình. Chiều dài mỗi ống trung bình khoảng 60m-100m.
Định vị ống vào vị trí dự kiến sau đó bơm dung dịch tỉ lệ 1 phần cát với 4 phần nước, cho đến khi ống đầy cát hoặc vữa xi măng. Hình thành mặt cắt đê biển hoặc kết cấu dự định xây dựng. 8: Ống vải địa kỹ thuật trong xây dựng đê kè g. Công nghệ sử dụng vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp Sử dụng vật liệu địa kỹ thuật tổng hợp (vải địa kỹ thuật, lưới địa kỹ thuật) làm chức năng gia cố dạng đất có cốt, chức năng phân cách các lớp vật liệu có nhóm đường kính hạt khác nhau, gia cường làm nền khi đắp đê trên nền đất yếu.
Như vậy tăng cường ổn định tổng thể cho đê. Vải địa kỹ thuật làm tăng ổn định mảng gia cố mái đê, hoặc sợi tổng hợp dệt thành màng địa kỹ thuật làm chức năng chống thấm, chức năng phân cách giữa các lớp vật liệu. Nhìn chung với sự thay đổi về công nghệ vật liệu đã giải quyết được nhiều vấn đề kỹ thuật, đảm bảo sự an toàn và ổn định lâu dài của đê biển. 9: Vải địa kỹ thuật dùng gia cố lớp bảo vệ mái 9 Để chống trượt của cả khối bảo vệ mái bên trên lớp vải thì ma sát giữa lớp lọc và vải phải đảm bảo điều kiện: ƒ U W cos α ≥ sin α Biến đổi công thức () thành: ƒ U ≥ tan α Trong đó: ƒ U là hệ số ma sát giữa vật liệu lọc và vải địa kỹ thuật Trên đây là tổng hợp các giải pháp công nghệ bảo vệ mái và tăng cường ổn định cho mái đê biển của một số nước trên thế giới.
Có thể thấy rõ nhất là đê biển của họ vững chãi trên nền tốt, an toàn và mỹ quan nhờ có sự thay đổi công nghệ vật liệu và gia tăng trọng lượng của cấu kiện gia cố. Tổng quan về giải pháp bảo vệ mái đê biển ở Việt Nam 1. Kè lát mái bằng đá lát khan Đá hộc với kích thước xác định nhằm đảm bảo ổn định dưới tác dụng của sóng và đẩy nổi của nước, dòng chảy. Đá được xếp chặt theo lớp để bảo vệ mái.
Với loại kè này thường có một số biểu hiện hư hỏng do lún sụt, chuyển vị xô lệch, dồn đống trong khung bê tông cốt thép. Hình thức này đã được sử dụng ở hầu hết các địa phương, vật liệu hay dùng là đá hộc có kích thước trung bình mỗi chiều khoảng 0,25m-0,30m. 10: Kè bảo vệ mái bằng đá lát khan ở Cát Hải - Hải Phòng và Nam Định Ưu điểm của hình thức này: khi ghép chèn chặt làm cho mỗi viên đá hộc được các viên khác giữ bởi bề mặt gồ ghề của viên đá, khe hở ghép lát lớn sẽ thoát nước mái đê nhanh, giảm áp lực đẩy nổi và liên kết mềm dễ biến vị theo độ lúc của nền. 10 bề mặt gồ ghề, độ nhám lớn làm giảm sóng leo lên mái và giảm vận tốc dòng rút.
Về mặt kỹ thuật thì thi công và sử chữa dễ dàng. Nhược điểm: khi nền bị lún cục bộ hoặc dưới tác dụng của sóng dồn nén, các liên kết do chèn bị phá vỡ, các hòn đá tách rời nhau ra. Vì trọng lượng bản thân quá nhỏ nên dễ bị sóng cuối trôi. Khe hở giữa các hòn đá khá lớn, vận tốc sóng làm cho dòng chảy trong các khe đá ép xuống nền thúc đẩy hiện tượng trôi đất nền tạo hố xói, sụt sạt nhanh, gây hư hỏng đê.
Kè lát mái bằng đá xây, đá chít mạch, thảm rọ đá Hình thức này đã được sử dụng ở Thái Bình, Nha Trang,… với vật liệu là đá hộc kích thước trung bình mỗi chiều khoảng 0,25-0,3m (tận dụng cả đá nhỏ). - Kè lát bằng đá xây: Đổ vữa lót nền và xây từng viên đá liên kết thành tấm lớn có chiều rộng 2m, tạo khớp nối bằng bao tải nhựa đường. - Kè lát mái bằng đá chít mạch: Xếp đá chèn chặt và đổ vữa chít các mạch phía trên. 11: Đê Hải Thịnh 2, đê Hải Hậu - Nam Định - Kè lát mái bằng thảm rọ đá: Ưu điểm: liên kết các viên đá lại với nhau thành tấm lớn đủ trọng lượng để ổn định, đồng thời các khe hở giữa các hòn đá được bịt kín, chống được dòng xói ảnh hưởng trực tiếp xuống nền.
Nhược điểm: khi làm trên nền đất yếu, lún không đều sẽ làm cho tấm lớn đá xây, đá chít mạch lún theo tạo vết nứt gãy theo mạch vữa, dưới tác động của dòng 11 chảy trực tiếp xuống nền và dòng thấm tập trung thoát ra gây mất đất nền gây lún sập kè nhanh chóng. Khi thi công tại chỗ vữa xây bị mặn xâm thực sẽ làm giảm cường độ của khối xây. 12: Kè bằng rọ đá - Cà Mau 1. Kè mái bằng bê tông, bê tông đúc sẵn a.
Kè lát mái bê tông đổ tại chỗ Bê tông tấm lớn đổ tại chỗ có khớp nối với kích thước và trọng lượng theo tính toán cho từng công trình cụ thể, thường là lớn đủ trọng lượng chống sóng, tuy nhiên nếu nền lún không đều tấm bản dễ bị gãy, sập gây mất đất nền và do bê tông đổ tại chỗ bị mặn xâm thực nên cường độ Hình 1. 13: Kè lát mái bằng bê tông đổ tại chỗ chịu lực kém. ở Thừa Thiên Huế b. Kè bê tông lắp ghép tấm bản nhỏ, một mặt hình vuông Tấm bê tông đúc sẵn chất lượng tốt, thi công nhanh, có khe hở làm thoát nước mái đê để giảm áp lực đẩy nổi, nhưng tấm bản nhỏ không đủ trọng lượng và dễ bị bóc ra khỏi mái.
14: Kè bằng cấu kiện bê tông tấm nhỏ c. Kè bằng các khối bê tông dị hình trọng lượng lớn Hình 1. 15: Đê cửa sông Dương Đông - Kiên Giang Hình 1. 16: Đê biển Cát Hải được kiên cố hóa bằng tấm đan Hohl-quader d.
Kè lát mái bê tông tấm lắp ghép có ngàm hai chiều Kết cấu ngàm hai chiều có khả năng phân bố lực xung, lực cục bộ cho các cấu 13 kiện bên cạnh.