CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Khi mua một cổ phiếu hoặc trở thành cổ đông của một công ty, các nhà đầu tư bị đặt vào nhiều mối rủi ro. Các rủi ro này có thể được chia thành hai loại: Một là, những rủi ro phát sinh từ những hoạt động của công ty chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một vài công ty, và được gọi là rủi ro công ty hay rủi ro không hệ thống. Hai là, những rủi ro phát sinh từ những thay đổi của thị trường tác động đến nhiều hoặc tất cả các công ty, và được gọi là rủi ro thị trường hay rủi ro hệ thống.
Các nhà đầu tư có thể loại bỏ rủi ro không hệ thống bằng cách sở hữu một danh mục đầu tư, trong đó bao gồm nhiều loại cổ phiếu mà giá hoặc tỷ suất sinh lợi của chúng biến động không cùng chiều với nhau. Tuy nhiên, việc đa dạng hóa không thể triệt tiêu được rủi ro hệ thống. Rủi ro hệ thống của một công ty là rất quan trọng bởi vì nó cho thấy rủi ro của công ty có liên quan với rủi ro của thị trường; và nếu rủi ro của công ty cao hơn rủi ro thị trường thì nó sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty bởi vì những thay đổi của rủi ro sẽ lập tức được phản ánh trong giá cổ phiếu tại các thị trường hiệu quả. Ngày nay, các hoạt động kinh tế có liên quan đến nhiều loại rủi ro khác nhau.
Sự thay đổi của các yếu tố khác nhau như mức giá, các quy luật kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu trên thị trường là một trong những lý do chính cho sự không chắc chắn trong các hoạt động kinh tế. Sự phát triển của các hoạt động kinh tế và sự gia tăng phá sản của các tổ chức tài chính khác nhau làm tăng tầm quan trọng của việc quản lý rủi ro thông qua việc sử dụng các công cụ thích hợp để đo lường và kiểm soát rủi ro thị trường. Vì vậy, việc tìm hiểu và xác định các yếu tố quyết định rủi ro hệ thống có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các nhà quản lý tài chính của công ty có thể làm tăng giá trị của công ty, giúp công ty tránh việc phá sản, cũng như thu hút các nhà đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mục tiêu nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy hệ số Beta được sử dụng để đo lường rủi ro hệ thống của một cổ phiếu hoặc một công ty nói chung vẫn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đặc trưng của công ty như tính thanh khoản, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, đòn bẩy hoạt động, tỷ lệ chi trả cổ tức,. Điều này là không đúng với những lý luận của mô hình CAPM cho rằng hệ số Beta của một công ty là thước đo hiệu quả của rủi ro hệ thống trong một danh mục đầu tư được đa dạng hóa hoàn toàn. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là xem hệ số rủi ro Beta có phải là thước đo rủi ro hệ thống hiệu quả cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không. Hay hệ số Beta bao gồm cả những biến động của các yếu tố đặc trưng công ty.
Câu hỏi nghiên cứu Hệ số Beta có phải là thước đo rủi ro hệ thống hiệu quả của một công ty hay không? Các yếu tố kinh tế nào quyết định rủi ro hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam? 1. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu Các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 01/01/2008 đến 31/12/2012. Nội dung của đề tài Nội dung của luận văn gồm 2 phần. Một là, tiến hành ước tính rủi ro hệ thống của các cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012.
Việc ước tính hệ số rủi ro Beta được căn cứ vào sự thay đổi tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu này so với sự thay đổi tỷ suất sinh lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 của chỉ số thị trường, cụ thể là tỷ suất sinh lợi của chỉ số HSX-Index và HNX- Index. Hai là, xem xét các yếu tố kinh tế quyết định rủi ro hệ thống của thị trường chứng khoán Việt Nam. Các yếu tố tác động đến rủi ro hệ thống được xem xét trong đề tài này được chia làm hai nhóm. Một là, nhóm các yếu tố tài chính của công ty bao gồm: đòn bẩy tài chính (Financial Leverage), đòn bẩy hoạt động (Operating Leverage), quy mô công ty (Size) và tỷ lệ cổ tức (Dividend Yields).
Hai là, nhóm các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm: giá trị vốn hóa thị trường (Market Capitalization), tỷ lệ lạm phát (Inflation Rate) và tỷ lệ thâm hụt Ngân sách Chính phủ trên GDP (Government Deficit). Phương pháp nghiên cứu Để xem xét các yếu tố tác động đến rủi ro hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa yếu tố theo dữ liệu bảng. Trong đó, biến phụ thuộc là biến rủi ro hệ thống của công ty được giải thích bởi các biến độc lập, đó là các biến tài chính và các biến kinh tế vĩ mô đã được đề cập ở trên. Các phương pháp hồi quy OLS, FEM, REM được sử dụng để ước lượng cho mô hình hồi quy.
Sau đó, tác giả thực hiện kiểm định Likelihood, kiểm định LM và kiểm định Hausman để lựa chọn ra mô hình tốt nhất trong số các mô hình hồi quy. Các mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê (p-value < 0,05) sẽ được kiểm định về tính hiệu quả của kết quả hồi quy thông qua kiểm định phương sai thay đổi, kiểm định tự tương quan. Nếu mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi, hoặc hiện tượng tự tương quan, hoặc có cả hai hiện tượng này thì tác giả tiến hành khắc phục bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy GLS. Để hỗ trợ cho việc tính toán và phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng các phần mềm Excel và Stata 11.0 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu về một số bài nghiên cứu về rủi ro hệ thống trên thế giới.
Đầu tiên, tác giả sẽ trình bày một số phương pháp được sử dụng để đo lường rủi ro hệ thống của một chứng khoán hoặc công ty; tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho việc lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số rủi ro Beta trong bài nghiên cứu của chính tác giả. Các phương pháp ước tính hệ số rủi ro Beta Để có thể xác định mức rủi ro của một chứng khoán cụ thể, ta cần đo lường độ nhạy cảm của chứng khoán đó đối với biến động của thị trường. Độ nhạy cảm này gọi là Beta (β). Beta của một chứng khoán là hệ số đo lường độ nhạy cảm giữa tỷ suất sinh lợi trên chứng khoán đó đối với tỷ suất sinh lợi trên chỉ số thị trường.
Beta cho ta biết khuynh hướng và mức độ biến động của một chứng khoán nào đó đối với sự biến động của thị trường: - Nếu chứng khoán có β = 1, có nghĩa là giá chứng khoán đó sẽ di chuyển cùng bước với thị trường; - Nếu chứng khoán có β < 1, có nghĩa là giá chứng khoán đó sẽ có mức thay đổi ít hơn mức thay đổi của thị trường; - Nếu chứng khoán có β > 1, thì giá chứng khoán sẽ thay đổi nhiều hơn mức dao động của thị trường. Ví dụ, nếu Beta của một chứng khoán là 1.2, điều đó có nghĩa là giá chứng khoán có biên độ dao động nhiều hơn thị trường 20%. Chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để ước tính hệ số rủi ro Beta của một chứng khoán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Cách thức đơn giản nhất để đo lường hệ số Beta là dựa vào hiệp phương sai giữa TSSL của một chứng khoán với TSSL của thị trường và TSSL của thị trường với phương sai của TSSL thị trường: Cov(i,m) β= σ Trong đó: Cov(i,m) là hiệp phương sai giữa tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (i) và tỷ suất sinh lợi của thị trường; σ2m là phương sai của tỷ suất sinh lợi thị trường.
Ngoài công thức trên, trong thực tế, các nhà kinh tế học còn có thể sử dụng các mô hình hồi quy để ước tính hệ số Beta. Phương pháp thường được sử dụng để ước tính hệ số Beta của một cổ phiếu hoặc một công ty là hồi quy các TSSL của cổ phiếu hoặc công ty theo TSSL của chỉ số thị trường. Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu và tỷ suất sinh lợi của toàn bộ thị trường được trình bày trong công thức dưới đây: Ri = αi + βiRm + εi Trong đó: - Ri : Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (i). - αi : Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng độc lập với thị trường.
- Rm : Tỷ suất sinh lợi của chỉ số thị trường chứng khoán nào đó. - εi : Sai số ngẫu nhiên - βi : Hệ số Beta, đo lường độ nhạy cảm giữa tỷ suất sinh lợi trên chứng khoán (i) đối với tỷ suất sinh lợi trên chỉ số thị trường. Hệ số góc của phương trình hồi quy tương ứng với hệ số Beta của cổ phiếu và đo lường mức độ rủi ro của cổ phiếu. Hệ số rủi ro Beta còn có thể được ước tính thông qua mô hình định giá tài sản vốn CAPM.
Theo mô hình CAPM, lợi nhuận kỳ vọng bằng lợi nhuận không rủi ro cộng với một khoản bù đắp rủi ro nhân với hệ số rủi ro hệ thống của chứng khoán đó (hệ số β): Ri = Rf + βi(Rm – Rf) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Trong đó: - Ri : Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (i). - Rf : Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro, có thể tính bằng tỷ suất sinh lợi của trái phiếu chính phủ. - Rm: Tỷ suất sinh lợi của thị trường. - βi : Hệ số Beta, đo lường rủi ro của chứng khoán (i).
Trong thực tế, các nhà nghiên cứu có thể tùy vào mục đích của việc nghiên cứu hoặc đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, cũng như thị trường – nơi tiến hành nghiên cứu – mà lựa chọn các phương pháp ước tính hệ số Beta khác nhau.