CHƯƠNG 1: Tổng quan về đề tài CHƯƠNG 2: Khung lý thuyết và tổng quan về các nghiên cứu trước đây CHƯƠNG 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu CHƯƠNG 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây. Vấn đề hoạch định cấu trúc vốn cho doanh nghiệp được các nhà quản trị cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới đặc biệt quan tâm. Từ khi nghiên cứu cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (1958) đoạt giải Nobel kinh tế, các bài nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện nhiều hơn nhằm kiểm định tính thực tiễn của lý thuyết và cũng đưa ra quan điểm làm đa dạng hóa sự ảnh hưởng cấu trúc vốn doanh nghiệp. Để tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty qua các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chúng tôi chia các nghiên cứu trước đây thành ba nhóm như sau : 2.1 Nghiên cứu tại các nước đã phát triển.
Nghiên cứu của Titman và Wessels (1988) tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của 469 công ty có quy mô lớn niêm yết trên sàn chứng khoán của Mỹ trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến năm 1982. Trong bài nghiên cứu tác giả đo lường biến phụ thuộc tổng nợ, tổng nợ ngắn hạn, tổng nợ dài hạn. Kết quả nghiên cứu các nhân tố đặc điểm sản phẩm, quy mô công ty, lợi nhuận có tương quan thuận chiều đến cấu trúc vốn. Nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995) nhằm kiểm tra thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các nước G7 : Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Ý, Anh và Canada.
Mục tiêu mà nhóm tác giả xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các nước G7 có điểm nào giống và khác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bài nghiên cứu đo lường biến phụ thuộc tổng nợ theo giá trị sổ sách và giá trị thị trường. Kết quả biến tài sản cố định hữu hình tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn của các công ty ở các nước G7; biến cơ hội tăng trưởng Tobin’s Q tương quan ngược chiều, biến quy mô công ty tương quan thuận chiều, chỉ có các công ty thuộc nước Đức biến quy mô công ty có tương quan ngược chiều. Biến lợi nhuận tương quan ngược chiều và biến này tương quan thuận chiều đối với các công ty ở nước Đức.
Frank và Vidhan K. Goyal (2009) tập trung nghiên cứu “ Quyết định cấu trúc vốn, nhân tố nào quan trọng nhất ?”. Tác giả thu thập và xử lý dữ liệu của các công ty Mỹ giai đoạn 1950 đến 2003. Bài nghiên cứu đo lường cấu trúc vốn theo giá trị thị trường và giá trị sổ sách.
Kết quả các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn theo giá trị thị trường : Biến chỉ số ngành công nghiệp tương quan thuận chiều lên đòn bẩy, biến tỷ lệ giá trị thị trường và giá trị sổ sách của tổng tài sản tương quan nghịch lên đòn bẩy. Biến tài sản cố định tương quan thuận chiều, biến lợi nhuận tương quan nghịch chiều, biến quy mô công ty tương quan thuận chiều, biến lạm phát kỳ vọng tương quan thuận chiều. Khi nghiên cứu cấu trúc vốn theo giá trị sổ sách bài nghiên cứu chỉ ra rằng một số biến có ảnh hưởng giống với nghiên cứu cấu trúc vốn theo giá trị sổ sách. Tuy nhiên biến quy mô công ty, biến tỷ lệ giá trị thị trường và giá trị số sách, lạm phát kỳ vọng sự tác động chưa rõ ràng.
Tác giả kết luận bài nghiên cứu này có kết quả phù hợp với lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn.2 Nghiên cứu tại các nước đang phát triển Đặc điểm kinh tế của các nước này đang trong giai đoạn phát triển, vì vậy chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô có khác biệt so với các nước đã phát triển và ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hưởng đến quyết định lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ở các nước này. Các tác giả cũng đã thực hiện một số nghiên cứu để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty trong khối nước đang phát triển. Nghiên cứu của Booth et al (2001) đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các nước đang phát triển : Brazil, Mexico, India, Korea, Jordan, Malaysia, Pakistan, Thailand, Turkey, Zimbawe. Bài nghiên cứu của nhóm tác giả cho kết luận khá quan trọng đó là các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các nước đang phát triển cũng tương đồng với các nước đã phát triển.
Một số công ty ở các quốc gia có đặc điểm về cấu trúc sở hữu những nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn có sự khác biệt. Nhóm tác giả thu thập dữ liệu khoảng thời gian từ năm 1980 đến năm 1990. Biến tổng nợ và tổng nợ dài hạn được bài nghiên cứu đặt làm biến phụ thuộc. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến thuế tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn của các công ty thuộc quốc gia Thailand và Zimbawe và ngược chiều với các nước còn lại.
Biến tài sản cố định hữu hình tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn của công ty thuộc Mexico, Thailand và zimbawe và ngược chiều với cấu trúc vốn của các công ty ở quốc gia còn lại. Biến rủi ro kinh doanh tương quan thuận chiều và ngược chiều với cấu trúc vốn. Biến quy mô công ty tương quan ngược chiều với cấu trúc vốn các công ty của Mexico và India đồng thời có tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn của công ty ở các quốc gia còn lại. Biến lợi nhuận tương quan ngược chiều với cấu trúc vốn của các công ty ở các nước ngoại trừ Zimbawe.
Huang and Song (2006) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn : Bằng chứng hơn 1.200 công ty Trung Quốc giai đoạn 1994 đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các biến phụ thuộc : LD (Tỷ lệ tổng nợ dài hạn/ Tổng tài sản theo sổ sách); TL (Tỷ lệ tổng nợ phải trả/ Tổng tài sản theo sổ sách); TD (Tổng nợ dài hạn và ngắn hạn/Tổng tài sản theo sổ sách); MLD (Tỷ lệ tổng nợ dài hạn/ Tổng tài sản theo thị trường); MTL (Tỷ lệ tổng nợ phải trả/ Tổng tài sản theo thị trường); MTD (Tổng nợ dài hạn và ngắn hạn/Tổng tài sản theo thị trường). Các biến độc lập (Biến giải thích) : INDUSTRY (Biến giả ngành công nghiệp); REGION (Biến giả vùng); ROA (Lợi nhuận); TANG (Tài sản cố định), SIZE (Quy mô công ty); TAX (thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp), TOBIN’Q (Cơ hội tăng trưởng); NDTS (Tấm chắn thuế phi nợ); INSTITUT (Sở hữu tổ chức); VOLTY (Rủi ro kinh doanh); MANAG (Sở hữu quản trị). Kết quả nghiên cứu biến quy mô doanh nghiệp và tài sản cố định tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn.
Biến lợi nhuận, lá chắn thuế phi nợ, cơ hội tăng trưởng, cổ phần quản trị tương quan ngược chiều với cấu trúc vốn. Tác giả nhận định sở hữu nhà nước và sở hữu tổ chức không có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết Trung Quốc. Khác với các nước khác, các công ty Trung Quốc có xu hướng sử dụng ít nợ dài hạn. of Commerce & Financial Management, University of Kelaniya, SriLanka (2010) thực hiện nghiên cứu: “Các nhân tố của cấu trúc vốn: Phân tích thực nhiệm ở các công ty ngành sản xuất chế tạo niêm yết trên thị trường chứng khoán Colombo tại Srilanka”.
Bài nghiên cứu nhằm đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn về những nhân tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất chế tạo. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng số liệu của 17 Công ty sản xuất chế tạo niêm yết trên thị trường chứng khoán Colombo ở Srilanka trong giai đoạn 2003-2007 và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 với 5 nhân tố để thiết lập cấu trúc vốn cho các Công ty trên. Tác giả sử dụng phương pháp bình phương bé nhất OLS làm cơ sở để kiểm định cho bài nghiên cứu và một vài sửa đổi để giải thích cho dữ liệu bị thiếu khi lựa chọn các công ty. Bài nghiên cứu bao gồm ba biến phụ thuộc: Tỷ lệ nợ dài hạn, Tỷ lệ nợ ngắn hạn và Tỷ lệ tổng nợ phải trả.
Các biến độc lập bao gồm : Biến cường độ vốn (Capital Intensity: CAPINT), Tài sản hữu hình (Tangibility: TANG), lợi nhuận (Profitility: PROF), Quy mô công ty (Firm size : SIZE), Tấm chắn thuế phi nợ (Non-Debt Tax Shield: NTDS). Kết quả thực nghiệm biến lợi nhuận, tấm chắn thuế phi nợ tương quan ngược chiều cấu trúc vốn. Biến tài sản cố định tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn. Biến quy mô công ty tương quan ngược chiều với nợ dài hạn và nợ ngắn hạn.
Biến cường độ vốn tương quan ngược chiều với nợ ngắn hạn. Bor-Yi Huang, Cho-Min Lin và Chien-Ming Huang (2011) tập trung nghiên cứu ảnh hưởng cấu trúc sở hữu đến cấu trúc vốn các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Trung Quốc. Bài viết này xem xét các tác động cụ thể của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty Trung Quốc niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nhóm tác giả tập trung vào giải thích yếu tố sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức (sở hữu cổ phần của pháp nhân, quỹ đầu tư mục tiêu hưởng cổ tức) ảnh hưởng như thế nào đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Trung Quốc mà các nghiên cứu trước đó đã đề cập nhưng vẫn chưa có kết luận rõ ràng.
Dựa trên cơ sở nền tảng các lý thuyết về cấu trúc vốn nhóm tác giả khảo sát mở rộng một số nhân tố mà tác giả cho rằng chúng có ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn : Rủi ro mặc định, lợi nhuận, quy mô công ty, tài sản hữu hình, tốc độ tăng trưởng, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhằm có bằng chứng khẳng định ảnh hưởng của sở hữu nhà nước và sở hữu tổ chức lên cấu trúc vốn. Từ phân tích tất cả các mẫu, kết quả của bài nghiên cứu xác nhận rằng rủi ro rất quan trọng trong việc lựa chọn quyết định nợ. Cơ cấu sở hữu có tác động không đáng kể. Tuy nhiên khi chạy khảo sát ở nhóm công ty có đòn bẩy cao thì ảnh hưởng của sở hữu nhà nước có tác động dương đáng kể đến quyết định tài trợ.
Ngoài ra ảnh hưởng của quản trị bên ngoài có tác động đáng kể đối với công ty có quy mô lớn. Biến lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng tương quan thuận chiều với nợ dài hạn và ngược chiều với tổng nợ.