Chương 1. Lý luận chung về nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp. Thực trạng năng lực tài chính của của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn 202. Biện pháp nâng cao năng lực tài chính của Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn 202.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. [1] Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, biểu hiện của nó là luồng tiền đi vào hoặc đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Bản chất tài chính doanh nghiệp Bản chất của tài chính doanh nghiệp hiện đại: Là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó làm hình thành và biến đổi các loại tài sản lưu động và tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình SXKD. – Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước: hoặc xuất nhập khẩu ở đâu.
Doanh nghiệp hoạt động nộp thuế cho nhà nước Nhà nước đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp học xuất nhập khẩu. – Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, với khách hàng: Các nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp và nhận về tiền lời từ hoạt động đầu tư Doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng và thu tiền về. – Mối quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp hoặc xuất nhập khẩu ở đâu tốt. Doanh nghiệp trả lương, thưởng cho người lao động 4 Các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp có sự phân phối và điều chuyển vốn cho nhau… 1.
Chức năng của tài chính doanh nghiệp Đảm bảo hoạt động của công ty được tiến hành liên tục Một doanh nghiệp có thể huy động từ nhiều nguồn vốn đa dạng khác nhau, chúng có thể là: Vốn từ Ngân sách Nhà Nước, vốn cổ phần, vốn chủ sở hữu, vốn liên doanh, vốn vay, vv. Tùy thuộc vào loại hình, nhu cầu của doanh nghiệp mà loại vốn có thể có sự khác biệt. Nhưng chung quy lại, nó đều để đáp ứng được việc sản xuất kinh doanh của đơn vị. [2] Với chức năng này, tài chính doanh nghiệp giúp cho đơn vị có thể xác định được nhu cầu vốn cần thiết để duy trì và phục vụ cho sản xuất.
Đồng thời, nó còn đóng vai trò cân đối khả năng vốn của công ty và nhu cầu sản xuất của đơn vị. Cụ thể, nếu nhu cầu lớn hơn khả năng vốn hiện thời công ty cung ứng thì đơn vị phải tìm cách huy động từ các nguồn, đặc biệt là nguồn tài trợ và những nguồn có chi phí sử dụng vốn thấp, hiệu quả. Nếu nhu cầu nhỏ hơn thì nhà quản trị có chiến lược mở rộng quy mô, đầu tư sản xuất nhằm tăng doanh thu, hiệu quả kinh doanh. [3] Công cụ giúp nhà quản trị theo dõi hoạt động của doanh nghiệp Xét về tổng thể, chức năng này của tài chính doanh nghiệp là giúp công ty lựa chọn và phân phối nguồn vốn hiệu quả nhất.
Nghĩa là, với lượng vốn nhỏ nhất, có thể đem lại lợi nhuận cao nhất. Tài chính doanh nghiệp giúp phân phối thu nhập Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp không chỉ dùng để phân phối nguồn thu của doanh nghiệp mà còn giúp góp phần khai thông các nguồn tài chính trong xã hội đảm bảo vốn cho doanh nghiệp hoạt động. Hoạt động phân phối có thể tiến hành trong nội bộ doanh nghiệp hoặc là giữa các doanh nghiệp với nhau. [4] 5 Các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sau sẽ được thu về và phân phối theo chi phí khác nhau như sau: Khấu hao tài sản cố định.
Các chi phí của nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền lương cho công nhân, các khoản trích theo lương, vv… Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác. Sau khi đã loại trừ các khoản chi phí cho các hoạt động, phần còn lại doanh nghiệp thu về sẽ là lợi nhuận trước thuế. Từ đó, phần lợi nhuận này đầu tiên sẽ được trừ đi các khoản nghĩa vụ với Nhà nước. Sau đó, mới được phân phối theo dạng cổ tức về cho các cổ đông trong đơn vị.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp Tạo vốn và luân chuyển vốn: Là để bảo đảm vốn hoạt động của doanh nghiệp luôn có đủ và ổn đinh, đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh. Phân phối lại thu nhập: Nhằm cân đối lại nguồn vốn cho hợp lý, biết cách sử dụng đồng tiền lời sao cho có hiệu quả nhất, qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. [5] Kiểm tra giám sát quá trình luân chuyển vốn: Nhờ có chức năng này mà bộ phận tài chính doanh nghiệp có thể đưa ra được các đề xuất thích hợp tới người quản lý công ty liên quan đến các vấn đề nâng cao tính hiệu quả trong việc kiểm soát đồng vốn. Cơ sở lý luận nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp 1.
Khái niệm năng lực tài chính của doanh nghiệp Khái quát về năng lực tài chính được hiểu như sau: “Năng lực tài chính là khả năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đề ra”. [1] Cũng theo đề tài trên, tác giả Phạm Thị Vân Anh xem xét năng lực tài chính doanh nghiệp trên hai góc độ: Năng lực tài chính tổng thể và Năng lực tài chính cho sự tăng trưởng nói riêng. Cụ thể như sau: + Năng lực tài chính tổng thể: Là xem xét toàn bộ năng lực tài chính để thực hiện mục tiêu chung bao trùm là tối đa hóa lợi ích hay tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu của doanh nghiệp. Xem xét trên góc độ này, năng lực tài chính của doanh nghiệp bao hàm hai bộ phận cấu thành: năng lực tài chính chủ sở hữu doanh nghiệp và năng lực tài chính từ nợ vay.
+ Năng lực tài chính cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận cấu thành: năng lực tài chính nội sinh và năng lực tài chính ngoại sinh. Năng lực tài chính nội sinh cho tăng trưởng của doanh nghiệp là phần lợi nhuận để lại tái đầu tư. Đây chính là bộ phận năng lực tài chính chủ sở hữu nội sinh. Năng lực tài chính ngoại sinh cho tăng trưởng là nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có khả năng huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng.
[1] Như vậy, có thể hiểu năng lực tài chính của một doanh nghiệp là khả năng cung ứng và sử dụng nguồn tài chính cho các hoạt động trong doanh nghiệp, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nội dung phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp Phân tích tình hình tài sản Phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cuối kỳ với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tống số tài sản dễ thấy mức độ bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tài sản cho thấy sự chênh lệch tài sản đầu kì và cuối kì, tỷ trộng từng loại tài sản trong tổng tài sản của doanh nghiệp để từ đó cân đối tài sản sao cho phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. [2] 7 Phân tích tình hình nguồn vốn Cơ cấu nguồn vốn là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn.
Phân tích tình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp để thấy được khả năng tự chủ hay phụ thuộc về tài chính của doanh nghiệp cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp đang đương đầu. Phân tích kết quả kinh doanh Để biết được doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không thì ta tiến hành phân tích kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có lãi thì doanh nghiệp sẽ có khả năng huy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức tài chính như ngân hàng. Bất kỳ một tổ chức tài chính nào sẽ không cho doanh nghiệp vay nếu doanh nghiệp đó không có lãi vì rủi ro cao là không thu hồi lại được vốn.
Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp 1. Đánh giá khái quát thông qua báo cáo tài chính a. Đánh giá thông qua phân tích cơ cấu và biến động về tài sản Phân tích cơ cấu tài sản là việc xem xét tỷ trọng của hai loại tài sản trong doanh nghiệp là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tùy theo đặc trưng của mỗi doanh nghiệp mà sẽ có cơ cấu, tỷ trọng từng loại tài sản khác nhau.
Bên cạnh đó, khi phân tích cơ cấu tài sản, cần chú ý đến tỷ suất đầu tư của doanh nghiệp. Tỷ suất đầu tư được xác định bằng tài sản cố định chia cho tổng tài sản trong doanh nghiệp. Tỷ suất đầu tư cho biết khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Tỉ suất này được xác định bằng công thức: Tỷ suất đầu tư= (1.
Đánh giá thông qua phân tích cơ cấu và biến động về nguồn vốn Nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Trên bảng cân đối kế toán, cơ cấu từng 8 nguồn vốn trong tổng nguồn vốn phản ánh trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với từng khoản vốn mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng. [2] Trong khi phân tích cơ cấu nguồn vốn cần chú ý đến khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Tỷ suất này được xác định bằng công thức: Tỷ suất tự tài trợ= (1.2) Tỉ suất tự tài trợ thể hiện khả năng đáp ứng nguồn vốn của doanh nghiệp trước những yêu cầu của thị trường.
Nói cách khác chỉ số này thể hiện khả năng chủ động về nguồn vốn của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Tỷ suất này càng cao thì doanh nghiệp càng tự chủ về tài chính. Đánh giá qua cân đối tài sản và nguồn vốn Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn thể hiện sự hợp lý trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp.