chương 1 và điều 6 chương 2 của Nghị định 86 /2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô ký ngày 10/9/2014 đã đưa ra các khái niệm như sau: Đơn vị kinh doanh vận tải là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh vận tải bằng xe ô tô. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi; bao gồm kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có hành trình và lịch trình theo yêu cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào ki lo mét xe lăn bánh và thời gian chờ đợi. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải đáp ứng các điều kiện theo quy định được ghi tại Điều 6 và Điều 17 của Nghị định 86 /2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô ký ngày 10/9/2014 và Thông tư 63/2014/TT-BGTVT ngày 07/11/2014 quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.
Đặc trưng của các doanh nghiệp vận tải taxi Doanh nghiệp vận tải taxi là một hệ thống phức tạp Doanh nghiệp vận tải taxi là một hệ thống con trong hệ thống vận tải hành khách đường bộ. Bản thân doanh nghiệp là một hệ thống hết sức phức tạp, bao gồm: các mối quan hệ với các đơn vị vận tải khác trong nước và quốc tế, c 5 các cấp quản lý của cấp trên, mối quan hệ trong nội bộ tổ chức. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành taxi phải có nguồn nhân lực, đặc biệt các nhà quản trị có trình độ nhất định cả về phương diện trình độ nghiệp vụ cũng như khả năng giao tiếp, thương lượng. Thị trường Tất cả các công nghệ vận tải taxi chỉ tạo ra thuần tuý một loại sản phẩm.
Vì vậy, sản phẩm được cung ứng trên thị trường vận tải hành khách bằng taxi là đồng nhất. Vì vậy, cạnh tranh trên thị trường vận tải taxi không phải là cạnh tranh về chủng loại sản phẩm mà là sự cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm. Cung trong vận tải taxi là một đại lượng xác định, không liên tục (xe taxi 04 chỗ, 07 chỗ) nhưng cầu lại là một đại lượng bất kỳ nên giữa cung và cầu thường có sự chênh lệch. Sự chênh lệch này gây ảnh hưởng đến lợi ích của cả hai bên và liên quan đến đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.
Hoạt động vận tải mang tính ngẫu nhiên Vận tải taxi còn là một hệ thống mang tính ngẫu nhiên, bởi các yếu tố: mức độ nhu cầu hành khách, tình hình đường xá, những tác động của thiên tai, những hư hỏng bất thường của phương tiện. So với những ngành sản xuất khác, vận tải hành khách bằng xe taxi có nhiều bị động hơn, trong điều kiện sản xuất có nhiều thông số khó kiểm tra hơn. Phạm vi hoạt động Một đặc điểm khác không kém phần quan trọng của các doanh nghiệp vận tải taxi đó là phạm vi hoạt động rộng khắp, rất phân tán theo không gian và thời gian. Tình trạng hoạt động phân tán nói trên đòi hỏi phải có những kỹ năng quản lý phù hợp, một cơ cấu tổ chức phù hợp.
Tính chính xác và đồng bộ Hoạt động vận tải xe taxi đòi hỏi phải có độ chính xác cao, phải có tính đồng bộ của các công việc trong toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh. Chỉ c 6 có như vậy mới thoả mãn nhu cầu của khách hàng và nâng cao được năng suất phương tiện. Do vậy, doanh nghiệp cần phải có mối quan hệ thường xuyên với khách hàng, có đầy đủ những thông tin về tình hình đường xá, các địa điểm và tính năng cũng như tình trạng kỹ thuật của phương tiện trong doanh nghiệp. Những tiến bộ kỹ thuật, những phương tiện thông tin và điều khiển có thể giúp cho việc quản lý quá trình sản xuất vận tải tốt hơn.3 Đặc trưng về sản phẩm của các doanh nghiệp vận tải taxi Theo Nghị định 86/2014/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô nêu lên đặc trưng về sản phẩm của các doanh nghiệp vận tải taxi như sau: Thứ nhất - Tính vô hình của sản phẩm Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm đươc sản xuất ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua việc trao đổi, mua bán.
Cụ thể, đối với các doanh nghiệp vận tải taxi, các sản phẩm vận tải được tạo ra dựa trên sự chuyên môn hóa đối với ngành nghề của doanh nghiệp và nhu cầu di chuyển của khách hàng. Đối tượng lao động ở đây chính là khách hàng hay hành khách vận chuyển. Sản phẩm vận tải không có hình dáng, kích thước cụ thể, không tồn tại độc lập ngoài quá trình sản xuất ra nó. Nó được hình thành trong quá trình vận chuyển và cũng được tiêu thụ ngay trong quá trình đó, quá trình vận tải kết thúc thì quá trình tiêu thụ kết thúc.
Từ tính chất này ta có thể nhận thấy: các khách hàng không thể biết trước được chất lượng, giá trị của sản phẩm vận tải bởi tính vô hình của nó. Vì vậy, họ đặt niềm tin rất lớn vào những người cung ứng vận tải. Để củng cố niềm tin của khách hàng, người cung ứng vận tải cần phải xây dựng bản sắc văn hóa kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp để biến cái vô hình thành cái hữu hình. Thứ hai - Giá trị của sản phẩm c 7 Kinh doanh vận tải taxi là quá trình sản xuất sử dụng tư liệu sản xuất, lao động và tạo ra lượng giá trị (c + v + m).
Trong đó c là phần giá trị của tư liệu sản xuất, v + m là giá trị mới tạo ra bởi cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp vận tải taxi, bao gồm phần thu nhập của bản thân (v) và giá trị (m) tạo bởi lao động thặng dư cho tái sản xuất mở rộng và các nhu cầu khác của xã hội. Giá trị mới tạo ra (c + v + m) đó được cộng vào giá trị của sản phẩm. Như vậy, sản phẩm vận tải có tính hai mặt của nó. Một mặt, tạo điều kiện thực hiện giá trị sử dụng của hàng hoá và là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất của xã hội.
Mặt khác, trong quá trình vận chuyển, của cải vật chất không được tặng thêm, hàng hoá vận chuyển không được nâng cao chất lượng và chi phí vận tải sẽ dẫn đến việc tăng thêm giá trị vào sản phẩm của xã hội. Thứ ba - Chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm trong kinh doanh vận tải taxi được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Một số chỉ tiêu có thể lượng hóa được, một số chỉ tiêu chỉ dừng lại ở mức định tính. Việc đánh giá chất lượng sản phẩm thưởng có xu hướng thiên về phía khách hàng.
Những chỉ tiêu về chất lượng khách hàng thường quan tâm: - An toàn trong quá trình vận chuyển - Giá cước vận chuyển - Hệ thống dịch vụ trước, trong và sau quá trình vận chuyển - Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải taxi 1. Khái niệm cơ bản Khái niệm năng lực cạnh tranh Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong c 8 điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”. Hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh (Porter, 1996). Theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ [50]: “năng lực cạnh tranh là khả năng của một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do và lành mạnh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế”. Diễn đàn Kinh tế thế giới [51] lại quan niệm “năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”. Theo Nhóm tư vấn về năng lực cạnh tranh [31]: “Năng lực cạnh tranh liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi.
Năng lực cạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội. Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập thực tế của người dân”. Tóm lại, tất cả các định nghĩa về cạnh tranh trên đây đều là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể, cá thể huy động hết tất cả nguồn lực của mình, trên cơ sở sử dụng nhiều phương thức khác nhau để giành các ưu thế trên thương trường để đạt được mục đích kỳ vọng và mục tiêu kinh tế (thị phần, khách hàng, tiện ích và lợi nhuận). Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp c 9 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao - Trần Ngọc Ca (2011).
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp - Trần Ngọc Ca (2011). Đây là các yếu tố nội hàm của doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tượng cạnh tranh trên hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.