Chương 1. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1. Bối cảnh nghiên cứu Với lịch sử phát triển hàng ngàn năm, ngành gốm sứ Việt Nam đang dần khẳng định vị trí trong nền kinh tế đất nước. Giờ đây, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa mà đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực trong nhóm hàng thủ công mỹ nghệ với tỷ lệ lên đến 40% (Cục Xúc tiến thương mại, 2013).
Theo số liệu từ UN Comtrade, chỉ tính riêng trong năm 2014, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ đạt 514 triệu USD. Trong đó, Nhật Bản là khách hàng lớn nhất với tỷ lệ 16%, theo sau đó là các quốc gia phát triển như Đài Loan, Hoa Kỳ và Thái Lan. Tỷ lệ xuất khẩu mặt hàng gốm sứ sang các nước năm 2014 Nhật Bản 16% Đài Loan 13% Khác 54% Hoa Kỳ 10% Thái Lan 7% Nguồn: UNComtrade (2016) Trong sự phát triển đó, không thể không nhắc đến vai trò của ngành gốm sứ Bình Dương, một trong những tên tuổi có lịch sử phát triển lâu đời và liên tục dẫn đầu cả nước với tỷ trọng lên đến 41% (Institute Mekong, 2013). Để có được kết quả này, ngành gốm Bình Dương đã tận dụng các lợi thế về yếu tố đầu vào thuận lợi từ nguồn nguyên liệu cho đến lực lượng lao động có tay nghề cao trải qua hàng trăm năm phát triển (UBND Bình Dương, 2010).
Qua đó, đã có những doanh nghiệp vươn lên dẫn đầu thị trường và có khả năng cạnh tranh tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, theo nhận định của chuyên gia thì cụm ngành gốm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -2- sứ Bình Dương vẫn đang đối mặt với nhiều vấn đề như: sự thiếu tinh tế, tình trạng phân mảnh với nhiều nhà sản xuất quy mô nhỏ rải rác cũng như có rất ít các cơ sở có trình độ công nghệ sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao (Zerrillo, Catasti, & Ohlsson, 2012). Hơn nữa, năng lực nâng cấp đổi mới của cụm ngành gốm sứ Bình Dương cũng bị đánh giá là yếu kém. Cụm ngành đang thiếu vắng những cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu cùng các thể chế hỗ trợ khác tương xứng với tiềm năng (Hiệp Hội Gốm Sứ Bình Dương, 2014).
Từ đó, nảy sinh tình trạng sao chép kiểu dáng làm cho doanh nghiệp không chỉ mất đi từ 20 – 30% lợi nhuận đến từ sự khác biệt, mà còn làm bào mòn sức sáng tạo (Nguyễn Trí, 2014). Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các doanh nghiệp gốm sứ Bình Dương cũng tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trị khi có đến 80% sản phẩm xuất khẩu, tuy nhiên, giá trị gia tăng lại rất thấp (Vân Thị Thùy Trang và Phan Anh Tú, 2014). Nguyên nhân do hơn 90% sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ mới dừng lại ở khâu sản xuất và xuất khẩu thô, không có thương hiệu và hoàn toàn bị lệ thuộc vào các công ty trung gian nước ngoài (Dương Quang, 2012). Điều này làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp nhận được rất ít do phân đoạn sản xuất chỉ chiếm 20%1 doanh thu ròng trong chuỗi giá trị nhưng chi phí lại rất cao (Rowley, 2008).
Việc các doanh nghiệp quá tập trung vào phân đoạn sản xuất mà không có khả năng nâng cấp có thể đối mặt tình trạng dễ tổn thương lẫn nguy cơ sa sút (Kaplinsky & Morris, 2001). Viễn cảnh đó đang dần trở thành hiện thực, trong cuộc suy thoái kinh tế năm 2009, cầu xuất khẩu các sản phẩm gốm sứ giảm khiến ngành gốm sứ Việt Nam nói chung và của Bình Dương nói riêng rơi vào suy giảm nghiêm trọng. Tại Bình Dương, biến động của thị trường đã khiến hàng loạt các doanh nghiệp rơi vào tình cảnh khó khăn và đối mặt với nguy cơ đóng cửa (Hiệp Hội Gốm Sứ Bình Dương, 2011). Đến năm 2010, mặc dù thị trường đã có sự hồi phục đáng kể nhưng tiến trình phục hồi của ngành gốm sứ Bình Dương vẫn còn chậm chạp so với sự phát triển chung của cả nước.
1 Phụ lục 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Kim ngạch xuất khẩu ngành gốm sứ (1000 USD) 400,000 350,000 300,000 250,000 200,000 150,000 100,000 50,000 0 2006 2007 2008 2009 2010 Bình Dương Cả nước Nguồn: UN Comtrade và Hiệp hội gốm sứ Bình Dương (2013) Những vấn đề kể trên đã và đang là rào cản rất lớn cho sự phát triển của cụm ngành. Những cơ hội dần bị bỏ lỡ, những thách thức mà cụm ngành gốm sứ Bình Dương phải đối mặt đang dần lớn lên đặt cụm ngành vào tình thế ngày một khó khăn. Chính vì thế, vai trò của Nhà nước cần làm là tìm ra những nguyên nhân gốc rễ và đề ra giải pháp nhằm tháo gỡ những nút thắt còn tồn đọng, khắc phục được những yếu điểm không chỉ gói gọn trong phạm vi cụm ngành mà còn tạo dựng nền tảng cho các ngành có liên quan phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu Qua đề tài này, tác giả mong muốn tập trung nghiên cứu các yếu tố hình thành nên NLCT của cụm ngành gốm sứ tỉnh Bình Dương, đặc biệt chú trọng đến việc phát triển tính liên kết dọc và liên kết ngang. Thông qua đó, đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa NLCT của cụm ngành gốm sứ Bình Dương cũng như thúc đẩy tác động lan tỏa đến các ngành hỗ trợ khác, tạo nền tảng cho sự phát triển mang tính tổng thể. Câu hỏi nghiên cứu Từ những định hướng như trên, đề tài tập trung vào nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Nguyên nhân nào khiến các doanh nghiệp trong cụm ngành gốm sứ Bình Dương gặp khó khăn khi phát triển lên các phân đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn? - Đâu là những yếu tố then chốt quyết định NLCT của cụm ngành gốm sứ Bình Dương ở hiện tại và trong tương lai? - Chính sách nào để nâng cao NLCT cho cụm ngành gốm sứ tại tỉnh Bình Dương? TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Cụm ngành gốm sứ Bình Dương trong đó chú trọng đến các mối liên kết dọc và liên kết ngang trong cụm ngành.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung hướng đến phân tích NLCT của cụm ngành gốm sứ Bình Dương. Trong đó, chú trọng phân tích nhóm sản phẩm gốm sứ gia dụng, các sản phẩm gốm sứ trang trí nội và ngoại thất. Đối với các địa phương lân cận là Tp. HCM và Đồng Nai, mặc dù đã từng có truyền thống sản xuất gốm sứ nhưng cho đến nay số lượng doanh nghiệp hiện còn rất khiêm tốn.
Do đó đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi tỉnh Bình Dương. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được thực hiện theo phương pháp định tính dựa trên các lý thuyết của Michael Porter về NLCT và chuỗi giá trị toàn cầu. Dựa trên cơ sở đó cùng với các số liệu thống kê, kết quả phỏng vấn, tác giả đưa ra phân tích về NLCT của cụm ngành. Nguồn thông tin Nguồn số liệu thứ cấp từ Tổng cục thống kê, Báo cáo xuất nhập khẩu của Hải quan và các báo cáo của các sở ban ngành của tỉnh Bình Dương.
Nguồn số liệu sơ cấp thông qua quan sát thực địa và tiến hành phỏng vấn có cấu trúc với 20 doanh nghiệp trong cụm ngành. Trong đó các doanh nghiệp được lựa chọn theo phương pháp phân tầng dựa trên vị trí, chủ yếu tại ba khu vực có lịch sử phát triển và mật độ tập trung cao là Thành phố Thủ Dầu Một, Thị xã Thuận An và Huyện Tân Uyên (Phụ lục 1). Ngoài ra, để làm rõ một số vấn đề trong bài nghiên cứu, tác giả có phỏng vấn phi cấu trúc đối với đại diện Sở Khoa học Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Kế Hoạch Đầu Tư, Cục Đo lường Chất lượng sản phẩm và Ban quản lý khu công nghiệp Đất Cuốc (Tân Uyên). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- Chương 2.
Tổng quan cơ sở lý thuyết 2. Lý thuyết về cụm ngành Khái niệm về cụm ngành đã sớm được đề cập bởi tác giả Alfred Marshall (Marshall, 1890) để mô tả những ngành công nghiệp chuyên biệt tập trung tại một vị trí địa lý. Qua đó, những ngành này không chỉ tận dụng được các lợi thế kinh tế nhờ quy mô mà còn là nơi hội tụ của những người lao động có kỹ năng và các dịch vụ hỗ trợ, từ đó hình thành ngoại tác thúc đẩy cụm ngành. Dựa trên lý thuyết nền tảng đó, đã có nhiều nghiên cứu đóng góp mở rộng khái niệm này mà một trong số đó là định nghĩa của Porter (1998) rằng cụm ngành là “sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”.
Định nghĩa này nhấn mạnh việc tập trung về mặt địa lý của các hoạt động kinh tế nhờ đó thúc đẩy hiệu quả trong việc tiếp cận thông tin, nguồn nguyên liệu và lao động. Bên cạnh đó, nó còn giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch phát sinh giữa các công ty, gia tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, tính liên kết hình thành trong ngành tạo ra được những ngoại tác tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp cùng phát triển. Các doanh nghiệp có điều kiện hơn trong việc tiếp cận, học hỏi và chuyển giao các công nghệ mới với chi phí thay đổi là thấp nhất.
Đồng thời, quá trình cạnh tranh còn giúp các doanh nghiệp trong ngành hình thành nên áp lực thúc đẩy các doanh nghiệp phải đổi mới, qua đó tạo nên tính năng động và sáng tạo cho cụm ngành. Lý thuyết về NLCT Theo Porter (1998) thì khái niệm về lợi thế cạnh tranh được hiểu thông qua năng suất, đó chính là giá trị sản phẩm được tạo ra trên mỗi đơn vị yếu tố đầu vào thông thường là vốn và lao động. Chính năng suất sẽ quyết định đến mức sống của mỗi quốc gia, do đó việc cải thiện NLCT sẽ nâng cao được đời sống của người dân, tạo dựng sự thịnh vượng. Dựa trên lý thuyết đó thì nền tảng cho việc phân tích NLCT của cụm ngành được quyết định bởi bốn yếu tố bao gồm: bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp; những điều kiện nhân tố; những điều kiện cầu và các ngành công nghiệp hỗ trợ có liên quan hình thành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- nên bốn đỉnh của mô hình kim cương.
Ngoài ra, lợi thế cạnh tranh của một quốc gia còn được lý giải bởi hai nhân tố là sự ngẫu nhiên và vai trò của chính phủ.