mở đầu và kết thúc không rõ ràng như: chú ý, tâm trạng, v. Ở đây, mạt-na thức bàn về các trạng thái tâm lý sau: 1) Hôn trầm (torpid-mindedness) là trạng thái tâm lý gây ra sự bất lực (incapacity or incompetence) của tâm trí làm trở ngại sự thanh thản và sáng suốt. Đây là trạng thái trầm cảm của con người. Đây là trạng thái bồn chồn của con người.13 3) Bất tín (unbelief) là trạng thái tâm lý không thừa nhận, không ưa thích và không khao khát (non-recognition, non-predilection, and non-desire) về điều cao siêu để từ đó đánh mất các phẩm hạnh và năng lực tiềm ẩn của tinh thần.
Đây là trạng thái bình thản, thờ ơ của con người.14 4) Giải đãi (indolence (or sloth)) là trạng thái tâm lý lười biếng, con người không thích hành động.15 5) Phóng dật (idleness (or negligence)) là trạng thái tâm lý tự nuông chiều và tự phóng túng (self-indulgence and self-abandonment) làm cho cá nhân không thể ngừng điều xấu, không thể làm việc tốt, không thể siêng năng và kháng cự (counteract) lại tính tự kỷ luật. Đây là trạng thái sống phóng túng của con người. Đây là sự rối loạn tâm lý ở con người. Đây là sự phân tán tập trung của con người.18 8) Bất chánh tri (non-discernment) là trạng thái tâm lý làm trở ngại sự hiểu biết đúng đắn (right understanding (samprajanya)) gây ra tội lỗi (to provoke transgressions).19 Ngoài ra, Thành Duy thức luận còn mô tả một số biểu hiện tâm lý của mạt-na thức ở góc độ khác như: tái sinh, A-la-hán, giác ngộ, v.
Những vấn đề đó nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, nên chúng tôi không trình bày ở đây. - Thứ năm, bàn về thuộc tính tâm lý của mạt-na thức. Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách. 21] Khi bàn về mạt-na thức, Phật giáo đề cập đến một số thuộc tính tâm lý có liên qua đến mạt-na thức.
Đó là các thuộc tính sau: 1) Ngã si là sự thiếu hiểu biết, là vô minh về tính chân thật của cái tôi và mê lầm lý vô ngã20. Từ góc độ Tâm lý học, ngã si là một thuộc tính tâm lý thường trực về cái tôi. 12 2) Ngã kiến là sự bám chặt vào cái tôi để tồn tại. Đây là sự tưởng tượng sai lầm về ngã tính khi chúng thật sự không như vậy21.
Từ góc độ Tâm lý học, ngã kiến là một thuộc tính tâm lý thường trực về ngã tính của thế giới. 3) Ngã mạn là tính tự phụ, kiêu căng dựa vào niềm tin về một cái tôi mà nó tạo cho tâm lý cảm giác cao cấp và cao thượng22. Từ góc độ Tâm lý học, ngã mạn là thuộc tính tâm lý thường trực tự phụ. Có thể ở góc độ khác, tính tự phụ chỉ là một trạng thái tâm lý, nhưng ở đây Thành Duy thức luận muốn nhấn mạnh đến tính thường trực “chấp” hay “bám chặt” về một cái tôi.
4) Ngã ái là một dục vọng mãnh liệt vì cái tôi, do niềm tin về cái tôi mà nó phát triển sự quyến luyến sâu sắc23. Từ góc độ Tâm lý học, ngã ái là một thuộc tính tâm lý thường trực vì cái tôi. 5) Hữu phú vô ký (Chướng ngại Thánh đạo và che lấp tự tâm) là trạng thái thể hiện không thiện không ác là vô ký24. Từ góc độ Tâm lý học, hữu phú vô ký là một thuộc tính tâm lý thường trực trung tính về đạo đức một cách vô thức.
Mạt-na thức tuy trung tính về đạo đức nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường, giáo dục và hoạt động. Về vấn đề hữu phú, có giải thích cho rằng đó là bị vô minh điều kiện hóa, bị ngăn che, tức ngăn che giác ngộ, nhưng khi so sánh với tính chất vô phú của tàng thức thì dường như giải thích trên chưa được đầy đủ. Trong khi đó, Vi Đạt cho rằng hữu phú là bị ô nhiễm (defiled). Chúng tôi đồng ý với giải thích này của Vi Đạt và bổ sung thêm bị ô nhiễm nhị nguyên, tức là đúng-sai, thị-phi.
-Thứ sáu, bàn về mạt-na thức như là nguồn gốc của các hiện tượng tâm lý con người. 13 Trong Kinh Lăng-già, Manas (gốc là man), nghĩa là “tư duy”, “tưởng tượng”, “ý muốn” ở vị trí trung tâm của lý trí và ý chí, tương đương với khái niệm tâm lý [hoặc tâm trí – NV] của phương Tây. Trong Kinh Lăng-già, mạt-na thức có một vị trí rõ ràng và thực hiện một chức năng cụ thể trong hệ thống các hoạt động tâm lý (. Mạt-na thức là nguồn gốc của lý trí, ý chí, xúc cảm, tư duy, tưởng tượng.
Mạt-na thức là một hiện tượng tâm lý nằm dưới tất cả các hiện tượng tâm lý khác, là cơ sở cho tất cả các hiện tượng tâm lý. -Thứ bảy, khái niệm mạt-na thức trong phân kỳ lịch sử của Phật giáo. Chúng tôi dựa vào bản dịch sang tiếng Trung của Âu Dương Hãn Tồn (Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận 原始佛教思想論) và pháp sư Diễn Bồi (Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận 小乘佛教思想論 và Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận 大乘佛教思想論), kế thừa phương pháp phân kỳ lịch sử gồm ba thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái và Phật giáo đại thừa tại Ấn Độ như sự đánh dấu quá trình hình thành và phát triển nội hàm của khái niệm mạt-na thức. Như vậy, vấn đề mạt-na thức rất được quan tâm trong các công trình của Phật giáo.
Có lẽ, theo quan niệm của Phật giáo, đây là một trong những vấn đề tâm lý quan trọng nhất, trung tâm của tâm lý con người, có ảnh hưởng đến các khía cạnh tâm lý khác của con người. Những nghiên cứu về mạt-na thức từ góc độ của Tâm lý học hoặc của Phật giáo chủ yếu là các công trình nghiên cứu từ Phật giáo Ấn Độ. Những nghiên cứu của Tâm lý học hiện đại về vấn đề này còn chưa nhiều. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẠT-NA THỨC Ở TRONG NƢỚC Ở nước ta, nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống về mạt- na thức còn chưa nhiều.
Tuy vậy, có thể nêu ra một số nghiên cứu về mạt-na thức sau: Tác giả Nhất Hạnh đã tìm hiểu mạt-na thức trên cơ sở của Phân tâm học. Theo Giảng luận Duy biểu học, Freud có nói tới một vùng năng lượng nằm sâu trong vô thức có gốc từ sinh lý tượng trưng cho tất cả ao ước, thèm muốn, khao khát, bực dọc sâu kín mà ông gọi là cái ấy (the Id). Theo tác giả Nhất Hạnh, cái ấy tương đương với thức mạt-na, nói cách khác, mạt-na thức tương đương với cái ấy của Phân tâm học. Dục vọng (libido, bản năng tình dục) thúc đẩy mạt-na thức hoạt động.
Chúng tôi chỉ đồng ý một phần của quan điểm này khi tìm kiếm vị trí của mạt-na thức trong cấu trúc nhân cách của Phân tâm học. Giảng luận Duy biểu học được trình bày theo thể văn nói (thuyết giảng), không phải văn viết, nên có sự trùng lặp ý tưởng, không theo một logic nhất định. khiến người nghiên cứu sắp xếp, hệ thống hóa theo một logic khá khó khăn. Một nghiên cứu đáng chú ý khác về mạt-na thức là tác phẩm Luận Thành Duy thức luận do Tuệ Sỹ dịch và chú giải.
Tác giả không chỉ làm rõ khái niệm mạt-na thức, mà còn bổ sung những ý kiến đặc sắc. Với lợi thế am hiểu nhiều ngôn ngữ, ông đã miệt mài nghiên cứu các nguồn tài liệu quý hiếm từ các quốc gia như: Anh, Pháp, Pāli, Sanskrit, Trung Quốc, Nhật v.v… để đưa ra những nhận định sắc sảo. Có thể nói việc nghiên cứu mạt-na thức và Duy thức học, không thể không tham khảo tài liệu của ông. 15 Tuy nhiên, vì đây là công trình nghiên cứu dành cho giới học giả Phật giáo, nên khái niệm / thuật ngữ thuần túy chuyên môn, phù hợp với những người có trình độ Hán học nhất định và đã từng có nhiều thời gian nghiên cứu Duy thức học.
Do vậy, tìm kiếm ở tác phẩm này một sự so sánh với Tâm lý học là điều tương đối khó khăn. Đối với công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã tham khảo, đối chiếu, so sánh, tìm nguồn gốc của các khái niệm, thuật ngữ Hán học có liên quan đến mạt-na thức. Hai tác giả Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn (2005) đã dịch sang tiếng Việt từ tiếng Anh hai tác phẩm “Lăng Già Đại thừa kinh” và “Nghiên cứu kinh Lăng Già” của Daisetz Teitaro Suzuki và các tác phẩm này được Nhà xuất bản Tôn giáo phát hành. Với lợi thế am hiểu nhiều ngôn ngữ, bản dịch được diễn đạt khá lưu loát, chuyển tải gần như đúng với tinh thần của nguyên tác, giúp độc giả có thể thêm một kênh để đối chiếu khi đọc trực tiếp nguyên tác.
Hầu hết các nhà Phật học trong và ngoài nước khá thống nhất với nhau khi dịch manas là mạt-na thức, dịch manovijñāna là ý thức; cách dịch này giúp cho chúng ta cảm thấy khái niệm/thuật ngữ ý thức của Phật học và Tâm lý học có cơ sở để so sánh với nhau. Trong khi đó, công trình này dịch manas là mạt-na (thức thứ bảy), manovijñāna (ý thức) là mạt-na thức; cách dịch này khiến người nghiên cứu cảm thấy cơ sở để so sánh thuật ngữ/khái niệm ý thức của Phật học và Tâm lý học chưa rõ nét, nếu không muốn nói là làm gia tăng khoảng cách Phật học và Tâm lý học. Do đó, tác giả luận án vẫn lựa chọn theo cách dịch manas là mạt-na thức, manovijñāna là ý thức để thuận lợi trong nghiên cứu và thống nhất với đa số các nhà Phật học. Một nghiên cứu đáng chú ý khác là tác phẩm “Lưới trời ai dệt” (2005) của tác giả Nguyễn Tường Bách được Nhà xuất bản Trẻ in và phát 16 hành.
Trong công trình “Lưới trời ai dệt?”, tác giả đã chỉ ra một mối liên hệ đặc biệt giữa Vật lý học và Duy thức học. Theo đó, các nhà Vật lý học hiện đại quan tâm đến những vấn đề về bản thể của các sự vật, hiện tượng vốn thuộc về Triết học. Nói đúng hơn, các nhà Vật lý học đã quan tâm đến mối liên hệ đặc biệt giữa sự tồn tại của một bên là các cơ sở nhỏ nhất của vật chất là hạt, sóng và một bên là tâm thức. Tại đây, xuất hiện vấn đề có phải mạt-na thức là cơ chế nhập tâm hóa thế giới thành cái tâm lý hay không, mạt-na thức là “kẻ” tách tàng thức ra thành chủ thể và đối tượng nhận thức như thế nào, mạt-na thức là “kẻ” đã thấy có một cái tôi riêng biệt như thế nào.