CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN DE LÝ LUẬN VỀ HỢP DONG HỢP TÁC KINH DOANH 1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA HỢP ĐỒNG HỢP TÁC KINH DOANH 1.1 Khái niệm về đầu tư nước ngoài Dau tư là “ Bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội.”[26, tr 291] Tài lực chính là khả năng về vốn dùng cho một một mục đích nhất định. Trong thực tiễn đời sống kinh tế các chủ thể kinh doanh không chỉ tiến hành đầu tư, kinh doanh ở trong nội bộ một quốc gia mà còn tiến hành các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài thậm chí trên nhiều quốc gia như các công ty đa quốc gia đang là một thực thể pháp lý quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Để tiến hành các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài thì các chủ thể kinh doanh đó đầu tư vào lãnh thổ nước ngoài.
Doanh nghiệp đó có thể đầu tư trực tiếp tại một quốc gia bằng cách mua một công ty đang tồn tại, thành lập một chi nhánh, thành lập một công ty con được tổ chức riêng rẽ, hay bắt đầu một liên doanh. [11, tr 501] Đó chính là đầu tư trực tiếp nước ngoài. “ “ Đầu tư trực tiếp- Thực tế tao ra sự hiện diện hợp pháp và chính thức tại một thị trường nước ngoai.”[11, tr 501] Con tại điểm 1 Điều 2 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 có định nghĩa “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của luật này.Hill chuyên ngành kinh doanh quốc tế 32 đại học Washington định nghĩa “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài hình thành khi một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp các cơ sở sản xuất hoặc phân phối sản phẩm ở nước ngoai.”[33, tr 176] Từ các định nghĩa trên , nên định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài như Sau: '“ Foreign direct investment occurs when a firm invest directly in facilities to produce and/ or market a product in a foreign country.”[33, p176] 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn hoặc đóng góp công sức tại Việt Nam để tiến hành hoạt động tìm kiếm lợi nhuận. Người nước ngoài bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài .Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập sâu hơn ở chương sau.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài theo qui định của pháp luật Việt Nam Pháp luật Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới ba hình thức: Hình thức thứ nhất là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh Hình thức thứ hai là doanh nghiệp liên doanh; Căn cứ theo Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2000 và Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ( sau đây gọi tắt là nghị định số 24/2000/NĐ- CP) và Nghị định số 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 27/2003/ ND-CP) thì doanh nghiệp liên doanh là: -Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; -Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài; -Doanh nghiệp liên doanh mới là doanh nghiệp đã được thành lập giữa doanh nghiệp liên doanh đã được thành lập tại Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài ; doanh nghiệp Việt Nam; cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do chính phủ qui định; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% đầu tư nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp được thành 5 lập bởi doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam; cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng được các điều kiện do chính phủ qui định; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh chịu trách nhiệm về các trái vụ của mình trong phạm vi vốn của doanh nghiệp liên doanh[17, tr 23]. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có thể độc lập tham gia tất các giao dịch dân sự hay thương mại và có thể là nguyên đơn hay bị đơn.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà DTNN tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn,có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.3 Khái niệm và bản chất của hợp đồng hợp tác kinh doanh Theo điểm 3 Điều 1 Nghị định số 27/2003/ ND-CP năm 2003 thì: Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, trong đó qui định trách nhiệm và kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới. Trong công tác xây dựng luật và trong khoa học pháp lý của Việt Nam, nhà làm luật và các nhà khoa học chưa chú trọng đến tên gọi của hình thức đầu tư này mà phần lớn các nhà làm luật cũng như các nhà khoa học hiểu hợp đồng hợp tác kinh doanh là một hình thức đầu tư chứ không chỉ đơn thuần là một loại hợp đồng. Do vậy chúng tôi tiếp cận hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hai góc độ.
Hợp đông hợp tác kinh doanh dưới góc độ của luật hợp đồng 3 Hợp đồng hợp tác kinh doanh là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa hai hay nhiều bên cùng nhau tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh chung và phân chia kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới. Hợp đồng hợp tác kinh doanh có đầy đủ các yếu tố cấu thành hợp đồng.Hợp đồng hợp tác kinh doanh là sự thoả thuận của các bên ký kết hợp đồng tức là sự thoả hiệp ý chí cuả tất cả các đương sự trong hợp đồng [1, tr 22]. Sự thoả thuận được thể hiện ở những điểm sau: -Các bên tham gia hợp đồng phải có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, hay nói cách khác, họ phải có khả năng bày tỏ ý chí của mình. Trường hợp những người không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì không có kha nang bày tô ý chí.
Do vay, trong trường hop này không thể có sự tồn tại của một thoả thuận và đương nhiên hợp đồng không có hiệu lực. -Các bên tự nguyện tham gia hợp đồng và tự do bày tỏ ý chí, không bên nào được ép buộc bên nào và không thể có một thế lực bên ngoài nào buộc họ phải giao kết hợp đồng. Những yếu tố lầm lẫn, lừa đảo, cưỡng bức đều làm mất đi tính tự nguyện và tự đo bày tỏ ý chí của các chủ thể và do đó hợp đồng vô hiệu. - Thỏa thuận chỉ được thành lập khi các bên đã thống nhất ý chí.
Thông thường, trong quá trình thành lập hợp đồng, một bên đưa ra một đề nghị giao kết hợp đồng hay còn gọi là chào hàng còn bên kia xem xét, nếu đồng ý thì đó là chấp nhận chào hàng và hợp đồng được thành lập còn nếu từ chối thì hợp đồng không tổn tại. Người tham gia ký kết hợp đồng phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể ở đây bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật của người tham gia hợp đồng là khả năng mà pháp luật cho phép người này tham gia vaò các giao địch hợp đồng. Trong các quan hệ pháp luật kinh tế, đòi hỏi người đó phải có thẩm quyền giao kết hợp đồng.
Về mặt lý luận, năng lực pháp luật giao kết hợp đồng bao gồm: 4 -Bên giao kết hợp đồng không bị cấm tham gia vào giao dịch hợp đồng hoặc pháp luật không loại trừ họ khỏi những người có quyền tham gia giao dịch. Ví dụ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1990) chỉ cho phép những tổ chức kinh tế của Việt Nam có tư cách pháp nhân mới được tham gia ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, do đó các hợp đồng hợp tác kinh doanh do doanh nghiệp tư nhân ký kết với bên nước ngoài không có hiệu lực. -Trong trường hợp bên tham gia giao kết hợp đồng là một tổ chức thì phải do người đại diện hợp pháp ký kết. Còn năng lực hành vi chính là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của một người.
Người có năng lực hành vi là người có khả năng bằng chính mình tham gia vào các quan hệ mà mình mong muốn. Những người không có năng lực hành vi, những người bị mất năng lực hành vi hoặc những người có năng lực hành vi chưa day đủ thì không thể tham gia vào các quan hệ hợp đồng hợp tác kinh doanh. Pháp luật chỉ cho phép những người này tham gia vào các giao địch dân sự nhỏ. Nội dung của hợp đồng hợp tác kinh doanh không được trái pháp luật Điều này xuất phát từ một lý thuyết pháp lý hiện đại là đối với các chủ thể pháp lý dân sự thì họ được làm tất cả những gì trừ những cái mà pháp luật cấm.
Lý thuyết này đã được nhiều quốc gia thừa nhận và trở thành nguyên tắc hiến định. Còn ở Việt Nam thì để đạt được nguyên tắc này, hệ thống pháp luật cần phải được hoàn thiện nhiều.