Chương 1: Cơ sé lý luận thực hiện pháp luật về hộ tịch trong bối cảnh chuyển đối số Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hộ tịch trong bối cảnh chuyển đổi số tại quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch trong bối cảnh chuyền đổi số tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THUC HIEN PHÁP LUẬT VE HỘ TỊCH TRONG BOI CẢNH CHUYEN DOI SỐ 1. Khái quát pháp luật về hộ tịch trong bối cảnh chuyển đối số 1. Khái niệm pháp luật về hộ tịch trong bối cảnh chuyền đổi số Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật Hộ tịch 2014, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết cụ thể như sau: Xác nhận vào Số hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bố sung thông tin hộ tịch; Khai tử. Ghi vào Số hộ tịch việc thay đôi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nha nước có thâm quyền: Thay đôi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm đứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mat tích, đã chết, bị mat hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Ghi vào Số hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đôi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thâm quyền của nước ngoài. Xác nhận hoặc ghi vào Số hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thâm quyền xác nhận hoặc ghi vào Số hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý dé Nhà nước bảo hộ quyên, lợi ich hợp pháp của cá nhân, thực hiện quan lý về dan cư Những sự kiện hộ tịch gắn liền với đời sống của mỗi người dân phát sinh, diễn biến liên tục đòi hỏi Nhà nước phải thường xuyên cập nhật thông tin và đưa ra các chính sách, biện pháp quản lý hiệu quả. Thông qua công tác quản lý về hộ tịch, Nhà nước tạo lập cơ sở pháp lý đê bảo vệ các quyên con người, quyên công dân và 10 phục vụ thiết thực cho hoạch định các chính sách phát triển ở từng giai đoạn phát triển nhất định.
Ở Việt Nam, quản lý hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư và có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sông xã hội, do đó việc nhận thức, quan niệm về hộ tịch phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển là cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp hiệu quả về vấn đề này. Theo Giản yếu Hán Việt từ điển của tác giả Đào Duy Anh thì Hộ tịch là "Quyền số của Chính phủ biến chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người" [Error! Reference source not found. Theo Từ điển Wikipedia: Dang ký hộ tịch là hệ thống mà theo đó một chính phủ ghi lại những sự kiện quan trọng của công dân và cư dân của mình thì có thê hiểu hộ tịch là những sự kiện quan trọng của công dân va cư dân. Cho dù có nhiều quan niệm khác nhau về hộ tịch nhưng về cơ bản có thé hiểu "hộ tịch" là việc đăng ký với co quan có thẩm quyền các sự kiện quan trọng trong đời sông của một người (sinh, tử, kết hôn.) trong thời hạn quy định hay việc ghi chép các sự kiện đó của cơ quan có thầm quyền nham quản lý dân cư.
Có thé khái niệm: H6 tich là những sự kiện khai sinh; kết hôn, giảm hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử và xác định tinh trạng nhân thân của ca nhân từ khi sinh ra đến khi chết được đăng ký bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyên. Khái niệm pháp luật về hộ tịch: Theo quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật thì pháp luật chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp và mặc dù tồn tại nhiều quy phạm khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất chung cho toàn xã hội, đó là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành dé điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị và bảo đảm thực hiện thông qua hoạt động của hệ thông các cơ quan nhà nước. Trong quản lý nhà nước về hộ tịch, pháp luật về hộ tịch có vai trò quan trọng trong bảo hộ quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư, theo 11 đó phải tuân thủ các yêu cầu của quy luật khách quan của quản lý và phải có hệ thống pháp luật phù hợp, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước thống nhất về DKHT. Cac quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về hộ tịch gồm: Thứ nhất, nhóm quan hệ về ĐKHT.
Nhóm này phản ánh những quan hệ về nội dung của việc thực hiện các quy định của pháp luật về hộ tịch. Mục đích của việc điều chỉnh các nhóm quan hệ này nhằm xác nhận giá trị pháp lý của việc ĐKHT với ý nghĩa là biện pháp tạo cơ sở cho các cá nhân thực hiện đúng các quyền về hộ tịch, đồng thời cũng để Nhà nước bảo vệ được các quyên và lợi ich hợp pháp về hộ tịch của các cá nhân và phù hop với những mục tiêu, yêu cầu quản lý dân cư trong từng giai đoạn phát triển nhất định. Ví dụ như: theo quy định của pháp luật thì khi các sự kiện hộ tịch được đăng ký thì có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba và cũng là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân liên quan. Những quan hệ về nội dung còn làm phát sinh các mối quan hệ khác trong quá trình thực hiện ĐKHT nhăm bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thé liên quan, đồng thời có thé xảy ra những sự kiện pháp lý tác động tới nội dung của các quan hệ pháp luật về hộ tịch (Ví dụ như trường hợp có tranh chấp về việc xác nhận quan hệ cha hoặc mẹ và con thì các bên liên quan có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thâm quyền giải quyết).
Thứ hai, nhóm quan hệ về cơ cấu tô chức, quản lý hộ tịch Các mối quan hệ này liên quan đến việc hình thành cơ cấu tô chức; quy định thâm quyền và quy chế hoạt động của cơ quan hộ tịch. Những mối quan hệ này được thể hiện cụ thê như: mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch với các cơ quan DKHT; cơ cau tổ chức, hoạt động của hệ thống các cơ quan ĐKHT; mỗi quan hệ giữa các cơ quan ĐKHT. Thực tiễn cho thấy rang việc giải quyết các mối quan hệ này thường phức tạp và cũng có những tồn tại, hạn chế nhất định. Vi vậy, việc xác định và quy định rõ thẩm quyền; cơ chế phối hợp trong quá trình tổ chức đăng ký và quản lý hộ tịch; quy định cơ chế quản lý, mô hình tổ chức và hoạt 12 động của cơ quan ĐKHT phù hợp sẽ góp phần tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch.
Thứ ba, nhóm quan hệ về trình tự, thủ tục về DKHT. Quản lý hộ tịch và ĐKHT nhăm bảo đảm sự minh bach, công khai các quyền về hộ tịch của cá nhân, đồng thời cũng là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân liên quan, do đó hoạt động quản lý, ĐKHT phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục nhất định. Việc thực hiện các nguyên tắc, trình tự, thủ tục ĐKHT làm xuất hiện hàng loạt các mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan. Đó là những quan hệ phát sinh từ việc thực hiện các thủ tục DKHT, thay đôi nội dung DKHT.
Như vậy, dé điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội nêu trên, Nhà nước phải ban hành các quy phạm pháp luật - các quy phạm pháp luật về hộ tịch, tổng hợp các quy phạm pháp luật về hộ tịch tạo thành pháp luật về hộ tịch. Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm Pháp luật về hộ tịch là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyên ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phat sinh trong hoạt động ĐKHIT; trình tự, thu tục DKHT; quan lý nhà nước về hộ tịch; về quyên, nghĩa vụ DKHT của cá nhân; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyên ĐKHT; nhiệm vụ, quyên hạn, trách nhiệm của công chức làm công tác hộ tịch và trình tự, thủ tục ĐKHIT. Chuyên đôi sô là quá trình thay đôi tông thê và toàn diện của cá nhân, tô chức vê cách sông, cách làm việc và phương thức sản xuât dựa trên các công nghệ z7 A SÔ. Chuyên đôi sô xu hướng tat yêu, không chỉ giúp tang năng suât, giảm chi phi mà con mở ra không gian phát triên mới, tạo ra các giá tri mới ngoai các giá tri truyện thong vôn có.
Chuyên đôi sô là quá trình khách quan, muôn hay không thì chuyên đôi sô vẫn xảy ra và đang diễn ra. Mỗi cá nhân, tổ chức có thé tham gia hoặc đứng ngoài quá trình đó. Nêu đứng ngoài, sẽ có khoảng cách lớn giữa các tô chức, Do vậy: 13 Pháp luật về hộ tịch trong bối cảnh chuyển đổi số là thực hiện pháp luật dựa trên nên tảng số và các công nghệ số. Nhìn về đường dai, thì mọi cá nhân, tô chức đều sẽ phải chuyên đổi số, không ai có thể đứng ngoài cuộc.
Tuy nhiên, tác động của công nghệ số lên các tổ chức, các ngành nghề là khác nhau. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay gắn với công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp là những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta thì sự cần thiết phải đi đầu trong bối cảnh chuyên đôi sô là một nhu câu tât yêu 1.